Xem bản: desktop Desktop | mobile Mobile
Nhà sách duy nhất về Phật giáo nằm tại trung Tâm Hà Nội

10:48 ICT Thứ tư, 22/05/2019
  • Nhà sách nhận in ấn tất cả các kinh sách của Phật Giáo và tượng Phật gửi đi tất cả các tỉnh thành đến tận nhà hoặc chùa. A Di Đà Phật!
     

Hỗ trợ liên hệ

Nhà sách phật giáo Tịnh Liên
  • address 187 Bà Triệu - Hà Nội
  • phone Gmail: nhasachtinhlien187
  • phone Điện thoại: 043 974 8417
  • phone Di động: 094 278 3333

Tìm kiếm sách

Từ khóa
Giá từ
Đến

Trên Google+

Trên Facebook

Luận tạng phật giáo Tuệ Quang tập 29

Mã sản phẩm: S0271 - 223 Lượt xem
Luận tạng phật giáo Tuệ Quang tập 29 gồm 5 cuốn trên 5000 trang sách khổ A4 được dịch bởi Tuệ Quang Foundation
Phiên bản sách : xuất bản lần 1
Nhà xuất bản : Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm xuất bản : 2016
Số trang : 5000
Chia sẻ :
Đây là một bộ luận đồ sộ. Riêng tập 29 của bộ Luận tạng đã được Tuệ Quang dịch ra tiếng Việt đã rất dày, phải chia thành 5 cuốn 

Bộ luận tạng tập 29

Mỗi cuốn được đóng bìa cứng dày đảm bảo bảo quản
Luận tạng
 

Tập 29 Đại Tạng Kinh là tập sau cùng tập hợp giới thiệu các Luận còn lại thuộc Bộ A Tỳ Đàm, từ N0 1558 đến N0 1563, trong ấy đáng chú ý là các Luận: A Tỳ Đạt Ma Câu Xá của Luận sư Thế Thân, Luận A Tỳ Đạt Ma Thuận Chánh Lý, Luận A Tỳ Đạt Ma Tạng Hiển Tông của Luận sư Chúng Hiền.

1. Luận A Tỳ Đạt Ma Câu Xá (Abhidharma Kos,a – Sàstra):

Tác giả là Tôn giả Thế Thân (Vasubandhu), một Luận sư thuộc phái Hữu Bộ, sống vào khoảng 320 – 380 TL, tác giả Luận A Tỳ Đạt Ma Câu Xá, Luận Thất Thập Chân Thật (Tattva – Saptati) được gọi là Cổ Thế Thân (Theo các nhà nghiên cứu Phật học cận đại) để phân biệt với Tân Thế Thân là Bồ tát Thế Thân, em Bồ tát Vô Trước (Asànga) người thành Phú Lâu Sa Phú La, nước Kiện Đà La (Bắc Ấn Độ) sống vào khoảng 400 – 480 TL, tác giả nhiều Bộ Luận giải thích Kinh Luận, là Luận sư của Du Già hành phái. Luận Câu Xá có 2 bản Hán dịch: 

  • a. Bản 1 (Dịch trước): Do Đại sư Chân Đế (499-569) thực hiện, dịch vào khoảng năm 563 – 564 đời Trần (557 – 588) mang tên A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Thích Luận, gồm 22 quyển (ĐTK/ĐCTT, Tập 29, N0 1559, trang 161 – 310 C).
  • b. Bản 2 (Dịch sau): Do Pháp sư Huyền Tráng (602 – 664) thực hiện, thời điểm dịch là năm 654 đời Đường (618 – 906) mang tên Luận A Tỳ Đạt Ma Câu Xá, gồm 30 quyển (ĐTK/ĐCTT, Tập 29, N0 1558, trang 1 – 159 B). 
Nội dung Luận A Tỳ Đạt Ma Câu Xá (30 quyển) được phân làm 9 phẩm: (1) Phân biệt giới (2 phần). (2) Phân biệt căn (5 phần). (3) Phân biệt thế giới (5 phần). (4) Phân biệt nghiệp (6 phần). (5) Phân biệt tùy miên (3 phần). (6) Phân biệt hiền Thánh (4 phần). (7) Phân biệt trí (2 phần). (8) Phân biệt định (2 phần). (9) Phá chấp ngã (2 phần). Lần lượt nêu dẫn, biện giải về: Pháp (hữu lậu - vô lậu), hữu vi – vô vi, năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, hai mươi hai căn, sáu nhân, bốn duyên (Phẩm phân biệt giới, phân biệt căn). Thuyết minh về hữu tình thế giới, khí thế giới, mười hai duyên khởi (Phẩm phân biệt thế giới). Thuyết minh về nguyên nhân của luân hồi, chủng loại của các nghiệp (Phẩm phân biệt nghiệp). Nêu dẫn, biện giải về sáu tùy miên, bảy tùy miên, mười tùy miên, chín mươi tám tùy miên, triền, lậu, bộc lưu, ách, thủ v.v… (Phẩm phân biệt tùy miên). Thuyết minh về bốn Thánh đế, hai đế, bốn Thánh chủng, tu quán bất tịnh, trì tức niệm, chỉ – quán, bốn niệm trụ, bốn căn thiện, mười sáu hành tướng, bốn quả Sa-môn (Phẩm phân biệt Hiền Thánh). Nêu dẫn, biện giải về mười trí, mười tám pháp bất cộng… (Phẩm phân biệt trí). Thuyết minh về bốn tĩnh lự, bốn định vô sắc, ba môn giải thoát, bốn tâm vô lượng (Phẩm phân biệt định). Nơi phẩm thứ chín: Phá chấp ngã, tác giả đã đứng ở lập trường vô ngã, đả phá, bác bỏ luận điểm hữu ngã của phái Thắng Luận, cùng luận điểm ngã là phi tức phi ly uẩn của Độc Tử Bộ, để làm sáng tỏ đạo lý vô ngã. Theo Hòa thượng Thiện Siêu thì nơi 9 phẩm của Luận Câu Xá, 8 phẩm đầu (28 quyển và non ½ quyển 29) là thuyết minh về sự tướng của các pháp. Một phẩm sau (Hơn ½ quyển 29 và quyển 30) là thuyết minh về lý vô ngã. Tổng hợp thì toàn bộ luận thuyết minh về bốn nghĩa chính: 
  • (1) Thể dụng của vũ trụ vạn hữu (Phẩm 1, 2).
  • (2) Nhân và quả của mê (Phẩm 3, 4, 5).
  • (3) Nhân và quả của ngộ (Phẩm 6, 7, 8).
  • 4) Đạo lý vô ngã (Phẩm 9).
(Đại Cương Luận Câu Xá. Bản in 2000, trang 26 – 27). 

Luận A Tỳ Đạt Ma Câu Xá với một bố cục gọn đủ như thế nên được xem là một Cương yếu của Luận A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa. Tác giả tuy dựa trên giáo học của Hữu Bộ làm tiêu chuẩn nhưng vẫn có quan điểm riêng, tức vẫn thừa nhận một số luận điểm của các Bộ phái khác, phê phán bốn luận thuyết về ba đời có khác của bốn vị Đại Luận sư thuộc Hữu Bộ (Pháp Cứu, Diệu Âm, Thế Hữu, Giác Thiên) và hầu như không tán thành giáo nghĩa: “Tất cả pháp nơi ba đời là thật có” của Hữu Bộ. 

Truyền vào Trung Hoa, Luận A Tỳ Đạt Ma Câu Xá sau khi được Đại sư Chân Đế (499 – 569) Hán dịch (563 TL) rồi viết Sớ giải (16 quyển)(1) để giải thích, thì Luận này đã tạo được ảnh hưởng đối với giới nghiên cứu Phật học Trung Quốc đương thời. Đến khoảng năm 651 – 654 Pháp sư Huyền Tráng (602 – 664) dịch lại Luận Câu Xá, lại được các môn đệ như Thần Thái, Phổ Quang, Pháp Bảo Sớ giải(1) thì Tông Câu Xá đã được xác lập và hưng thịnh một thời. 

2. Luận A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Bản Tụng:

Do Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch, 1 quyển (ĐTK/ĐCTT, Tập 29, N0 1560, trang 310 C – 325 A) là tập hợp toàn bộ 600 Tụng của Luận A Tỳ Đạt Ma Câu Xá nơi 8 phẩm (Phẩm 9: Phá chấp ngã không có tụng): Phẩm 1: 44 tụng. Phẩm 2: 74 tụng. Phẩm 3: 99 tụng. Phẩm 4: 131 tụng. Phẩm 5: 69 tụng. Phẩm 6: 83 tụng. Phẩm 7: 61 tụng. Phẩm 8: 39 tụng. Cùng 4 tụng (16 câu 7 chữ) nơi cuối luận. 

3. Luận A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Thật Nghĩa Sớ:

do Tôn giả An Tuệ tạo (Không ghi người Hán dịch) gồm 5 quyển cực ngắn (ĐTK/ ĐCTT, Tập 29, N0 1561, trang 325 A – 328 A), là những giải thích vắn tắt về một số điểm nơi Luận Câu Xá. 

4. Hai Bộ Luận của Luận sư Chúng Hiền (Samghabhadra: Tăng Già Bạt Đà La).

a. Luận A Tỳ Đạt Ma Thuận Chánh Lý (Abhidharma – nyàyànusà): Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch, gồm 80 quyển (ĐTK/ĐCTT, Tập 29, N0 1562, trang 329 – 775C). Luận phân làm 8 phẩm: Biện về bản sự. Biện về sai biệt. Biện về duyên khởi. Biện về nghiệp. Biện về tùy miên. Biện về Hiền Thánh. Biện về trí và Biện về định. Qua đấy lần lượt nêu dẫn biện giải về: Uẩn, xứ, giới gồm thâu tất cả pháp (Phẩm 1). Biện dẫn về 22 căn, luận phá các kiến chấp không nhân, một nhân (Phẩm 2).Thuyết minh về ba cõi, năm nẻo, bảy thức trụ, chín nơi chốn cư ngụ của các hữu tình, bốn loài cùng trung hữu, mười hai nhân duyên… (Phẩm 3). Biện giải về các thứ nghiệp (Phẩm 4). Thuyết minh về các thứ phiền não (Phẩm 5). Nêu dẫn, biện giải về hành quả của Hiền Thánh (Phẩm 6). Thuyết minh về các trí, các định (Phẩm 7, 8). Tác giả đứng trên lập trường chính thống của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, dành nhiều trang sách cùng công sức để đả phá, bác bỏ những luận điểm gọi là sai trái đối với Bộ phái mình, cực lực bảo vệ luận thuyết: “Tất cả pháp nơi ba đời là thật có”. Tuy Hán dịch là Pháp sư Huyền Tráng nhưng có rất nhiều phần, nhiều đoạn, nhất là những phần biện bác, đả phá, văn nghĩa diễn đạt không rõ, khó hiểu, khó lãnh hội. (Đây chắc chắn là do tác giả, không phải do người dịch) 

b. Luận A Tỳ Đạt Ma Tạng Hiển Tông (Abhidharma – Ko,sa – samayapradipikà): Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch, gồm 40 quyển (ĐTK/ĐCTT, Tập 29, N0 1563, trang 777 – 977C). Luận phân làm 9 phẩm, trừ phẩm 1: Mở đầu, nói về nhân duyên tạo luận, 8 phẩm còn lại là tương tợ với luận trước (Biện giải về bản sự, Biện về sai biệt…), nên xem như là một tóm lược của Luận A Tỳ Đạt Ma Chánh Lý: Không có phần tranh biện đả phá, biện giải gọn và rõ hơn, dễ đọc hơn luận trước. 

Tóm lại, Bộ A Tỳ Đàm (Non 2/3 tập 26, các tập 27, 28, 29, Đtk/ Đctt) là Bộ có số lượng trang nhiều nhất nơi Tạng Luận thuộc Hán Tạng (Hơn 3500 trang), bao gồm hơn 20 bản Luận, Luận Thích dài, ngắn, vừa, với những nội dung vô cùng phong phú. Xin mượn những ghi nhận, những đánh giá của Học giả Kimura Taiken để kết luận: “Như vậy, sự phân tích có thể nói là đặc trưng lớn nhất của Phật giáo A Tỳ Đạt Ma… Đến A Tỳ Đạt Ma, tư tưởng Phật giáo đã khai triển những vấn đề hoặc kiến giải vượt ra ngoài Khế kinh, và kết quả là đã ảnh hưởng đến tư tưởng sau này, nhất là ảnh hưởng đến Phật giáo Đại thừa không ít, do đó, nếu muốn hiểu rõ về Đại thừa tất cũng phải nghiên cứu qua Phật giáo A Tỳ Đạt Ma”. (Tiểu Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận I, Thích Quảng Độ dịch. Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh xb, 1970, trang 21, 51).

Xem qua một vài trang sách

Xin quý khách bấm vào hình ảnh thu nhỏ của trang sách muốn xem dưới đây để bật công cụ phóng to. Trên công cụ phóng to, rê chuột vào bên lề phải-lề trái để hiện các nút sang phải, sang trái. Nhấn vào các nút sang phải, sang trái để lật giở sách. Nhấn nút x để đóng

Độc giả bình luận về sách

Quý vị có thể bình luận hoặc nêu các câu hỏi đáp về sản phẩm dưới đây, chúng tôi sẽ trả lời cũng tại mục bình luận này

Số ký tự được gõ là 250

Đầu sách cùng loại