Xem bản: desktop Desktop | mobile Mobile
Nhà sách duy nhất về Phật giáo nằm tại trung Tâm Hà Nội

10:42 ICT Thứ tư, 22/05/2019
  • Nhà sách nhận in ấn tất cả các kinh sách của Phật Giáo và tượng Phật gửi đi tất cả các tỉnh thành đến tận nhà hoặc chùa. A Di Đà Phật!
     

Hỗ trợ liên hệ

Nhà sách phật giáo Tịnh Liên
  • address 187 Bà Triệu - Hà Nội
  • phone Gmail: nhasachtinhlien187
  • phone Điện thoại: 043 974 8417
  • phone Di động: 094 278 3333

Tìm kiếm sách

Từ khóa
Giá từ
Đến

Trên Google+

Trên Facebook

Luận tạng phật giáo Tuệ Quang tập 30

Mã sản phẩm: S0270 - 196 Lượt xem
Đại Tạng Kinh - Luận tạng phật giáo tập 30 bao gồm 5 cuốn trên 5000 trang sách được đóng thành khối nặng trên 10kg khổ A4.
Phiên bản sách : xuất bản lần 1
Nhà xuất bản : Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm xuất bản : 2016
Số trang : 5000
Chia sẻ :

TÓM LƯỢC  VỀ NỘI DUNG TẬP 30

Tập 30 Đại Tạng Kinh Đại Chánh Tân Tu gồm 2 phần: Phần đầu (Trang 1 – 278B): Tập hợp giới thiệu các luận thuộc Bộ Trung Quán, từ N0 1564 đến N0 1578. Phần sau (Trang 279 – 1035B): Tập hợp giới thiệu các luận thuộc Bộ Du Già 1, từ N0 1579 đến N0 1584. Hai Bộ Trung Quán và Du Già đều thuộc về loại Bộ thứ 1: Tập hợp các Kinh, Luận chính cùng với các Kinh, Luận liên hệ, đồng hệ, biệt hành… Chúng tôi xin dựa theo nghĩa ấy để giới thiệu tóm lược về nội dung của hai Bộ.

I. Bộ Trung Quán.

1. Luận chính:

Luận chính của Bộ Trung Quán là Trung Luận (Màdhyamaka – sàstra) hoặc Luận Trung Quán, còn có tên là Luận Đại Thừa Trung Quán, Luận Bát Nhã Đăng. Tác giả là Bồ tát Long Thọ (Nàgàrjuna – Thế kỷ 2 – 3 TL), người đã có những đóng góp rất lớn vào quá trình hình thành cùng phát triển của Phật giáo Đại thừa, cũng là người mở đầu cho công việc giải thích, quảng diễn các Kinh, Luận thuộc Phật giáo Bắc truyền. Trung Luận được viết theo thể kệ, gồm 27 phẩm, 446 kệ. Bản Hán dịch của Pháp sư Cưu Ma La Thập gồm 446 kệ, mỗi kệ gồm 4 câu – 5 chữ, với 27 phẩm như sau: (1) Phẩm Quán về nhân duyên (16 kệ). (2) Phẩm Quán về khứ lai (25 kệ). (3) Phẩm Quán về sáu tình (Sáu căn – 8 kệ). (4) Phẩm Quán về năm ấm (Năm uẩn – 9 kệ). (5) Phẩm Quán về sáu chủng (8 kệ). (6) Phẩm Quán về nhiễm – người nhiễm (10 kệ). (7) Phẩm Quán về ba tướng (35 kệ). (8) Phẩm Quán về tác – tác giả (12 kệ). (9) Phẩm Quán về bản trụ (12 kệ). (10) Phẩm Quán về đốt cháy, bị đốt cháy (16 kệ). (11) Phẩm Quán về bản tế (8 kệ). (12) Phẩm Quán về khổ (10 kệ). (13) Phẩm Quán về hành (9 kệ). (14) Phẩm Quán về hợp (8 kệ). (15) Phẩm Quán về có – không (11 kệ). (16) Phẩm Quán về buộc – mở (10 kệ). (17) Phẩm Quán về nghiệp (33 kệ). (18) Phẩm Quán về pháp (12 kệ). (19) Phẩm Quán về thời (6 kệ). (20) Phẩm Quán về nhân quả (24 kệ). (21) Phẩm Quán về thành hoại (20 kệ). (22) Phẩm Quán về Như Lai (16 kệ). (23) Phẩm Quán về điên đảo (24 kệ). (24) Phẩm Quán về bốn đế (40 kệ). (25) Phẩm Quán về Niết bàn (24 kệ). (26) Phẩm Quán về mười hai nhân duyên (9 kệ). (27) Phẩm Quán về tà kiến (31 kệ). Vì viết theo thể kệ nên độ dày của Trung Luận không nhiều. Ngay như bản chú giải Trung Luận của Phạm chí Thanh Mục – là bản được biết đến nhiều nhất, cũng chỉ hơn 38 trang Hán Tạng. Tuy nhiên, vì Nội hàm và Ngoại trương của Trung Luận là cực lớn, nói cách khác, những vấn đề được Trung Luận nêu lên, đặt ra là hết sức hàm súc, bao quát, quan trọng, nên tác động cùng ảnh hưởng của luận là vô lượng vô biên. Thế nên ĐTK/ĐCTT đã dùng Trung Luận và các Luận liên hệ để lập riêng làm Bộ Trung Quán là hoàn toàn hợp lý. (Bộ Trung Quán chỉ gồm chưa tới 280 trang Hán Tạng, là Bộ có số lượng trang ít nhất trong Tạng Luận. Bộ A Tỳ Đàm là Bộ có số trang nhiều nhất: Trên 3500 trang Hán Tạng).  Bốn bản Trung Luận hiện có nơi Bộ Trung Quán đều là những Bản Luận Thích mang số hiệu 1564, 1565, 1566, 1567.
  • Bản 1: Mang tên Trung Luận. Phạm chí Thanh Mục chú giải, Pháp sư Cưu Ma La Thập (344 – 413) Hán dịch vào đời Hậu Tần (384 – 417) gồm 4 quyển. Đại sư Tăng Duệ viết Tựa, có ghi rõ số lượng kệ nơi mỗi phẩm (N0 1564, trang 1 – 39B).
  • Bản 2: Mang tên là Thuận Trung Luận Nghĩa… Bồ tát Vô Trước giải thích, Hán dịch là Đại sư Cù Đàm Bát Nhã Lưu Chi (Hậu bán thế kỷ 5 – đầu thế kỷ 6 TL), dịch vào đời Nguyên Ngụy (339 – 534) gồm 2 quyển (N0 1565, trang 39C – 50B).
  • Bản 3: Mang tên là Bát Nhã Đăng Luận Thích. Luận sư Phân Biệt Minh (Thanh Biện) giải thích, Hán dịch là Đại sư Ba La Phả Mật Đa La (565 – 633), dịch vào đầu đời Đường (618 – 906) gồm 15 quyển, Đại sư Tuệ Trách viết Tựa (N0 1566, trang 50C – 135).
  • Bản 4: Mang tên là Đại Thừa Trung Quán Thích Luận. Luận sư An Tuệ giải thích, Hán dịch là Đại sư Duy Tịnh (thế kỷ 11 TL), dịch vào đời Triệu Tống (960 – 1276) gồm 9 quyển (N0 1567, trang 136 – 158).

Bản 1 là bản phổ biến nhất. Các bản Việt dịch hiện có đều dịch theo bản Hán dịch này(1). Theo nhiều nhà nghiên cứu Phật học cận đại thì Phạm chí Thanh Mục là một biệt danh của Bồ tát Đề Bà (Deva, thế kỷ 3 TL), đệ tử của Bồ tát Long Thọ, tác giả Bách Luận… Điều ấy có thể đúng, vì nơi Bản 1 này, người đọc có cảm tưởng là người giải thích và tác giả Trung Luận hầu như là một. Tức Bồ tát Long Thọ hẳn đã có những khơi gợi, những hướng dẫn v.v… để cho đệ tử mình làm công việc giải thích, tranh biện, trong khi các bản giải thích kia, cụ thể là hai Bản 3, 4 đã giải thích theo hướng hoàn toàn khác.

1 Có vị chỉ Việt dịch phần kệ, không dịch phần giải thích của Phạm chí Thanh Mục. Có vị dịch hết phần giải thích và phần kệ, nhưng các kệ thì được diễn ra văn xuôi. Theo chúng tôi thì nên dịch hết cả hai phần, về phần kệ nên Việt dịch theo thể kệ, vì thể kệ có tính văn học cao, dễ đọc dễ nhớ, lại ý nghĩa của các kệ đã được người giải thích biện giải khá đầy đủ rồi.

Bản 2: Tên gọi đầy đủ là Thuận Trung Luận Nghĩa Nhập Đại Bát Nhã Ba La Mật Kinh Sơ Phẩm Pháp Môn (Thuận theo nghĩa của Trung Luận, hội nhập pháp môn nơi phẩm đầu của Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật). Và như thế thì đấy không phải là tác phẩm giải thích Trung Luận như 3 Bản kia. Đại Từ Điển Phật Quang (Trang 1034B – 1035A), phần nói về tác phẩm Trung Luận, đã có lý khi không xem Thuận Trung Luận Nghĩa… của Bồ tát Vô Trước thuộc loại “Chú thích Trung Luận” mà chỉ nói: “Ngoài ra, còn có tác phẩm Thuận Trung Luận Nghĩa… của Bồ tát Vô Trước. Thuận Trung Luận Nghĩa… hầu như không có bố cục. Tác giả chỉ nêu dẫn hai kệ đầu nơi phẩm thứ 1 của Trung Luận, tạo sự nối kết với một số điểm nơi phẩm thứ nhất của Kinh Đại Bát Nhã, theo đấy để biện giải, quảng diễn. Đoạn cuối quyển hạ, tác giả có dẫn thêm vài kệ nữa (Thuộc phẩm thứ 2 và thứ 4 của Trung Luận) cũng là chỉ để đối chiếu nhằm biện biệt. Nhưng dù sao thì Bồ tát Vô Trước cũng đã biện giải ít nhiều về Trung Luận, mà những biện giải ấy không phải là không có giá trị. Do đấy cũng có thể sắp Thuận Trung Luận Nghĩa… vào đây. Hai bản 3, 4 giải thích theo hướng căn cứ vào nghĩa hiện có của các kệ để biện giải, quảng diễn. Bản 3 là bản có số trang nhiều nhất (Hơn 84 trang. Bản 1 hơn 38 trang), nhưng phần giải thích nhiều đoạn văn nghĩa không rõ, khó lãnh hội. Bản 4 gồm 9 quyển, mới giải thích hết phẩm thứ 13 (Phẩm Quán về hành. ĐTĐ Phật Quang (trang 1035A) phần nói về tác phẩm Đại Thừa Trung Quán Thích Luận của Luận sư An Tuệ, Hán dịch là Đại sư Duy Tịnh, đã ghi: Gồm 18 quyển. Rồi nơi trang 2406, phần nói về các tác phẩm của Luận sư An Tuệ, ghi: Đại Thừa Trung Quán Thích Luận: 9 quyển. Như vậy, tác phẩm này gồm 18 quyển, giải thích quảng diễn đủ 27 phẩm nơi Trung Luận, hay chỉ có 9 quyển, chỉ giải thích 13 phẩm? 

2. Phần Luận liên hệ:

Phần Luận liên hệ của Bộ Trung Quán gồm tác phẩm của Bồ tát Long Thọ (Luận Thập Nhị Môn, 4 luận ngắn), tác phẩm của Bồ tát Đề Bà (Bách Luận, Bách Tự Luận, Quảng Bách Luận, Luận Đại Trượng Phu) và tác phẩm của Luận sư Thanh Biện (Luận Đại Thừa Chưởng Trân).
a. Tác phẩm của Bồ tát Long Thọ:
  • Luận Thập Nhị Môn (Dvàdasamukha – sàstra): Hán dịch là Pháp sư Cưu Ma La Thập, dịch vào đời Hậu Tần (384 – 417), 1 quyển, N0 1568, trang 159 – 167C). Đây là sự nối tiếp của Trung Luận “Dùng mười hai môn để hội nhập nơi nghĩa không”.
  • Bốn luận ngắn: Đó là các luận: Luận Nhất Thâu Lư Ca, Luận Đại Thừa Phá Hữu, Luận Lục Thập Tụng Như Lý, Luận Đại Thừa Nhị Thập Tụng (N0 1573, 1574, 1575, 1576, Tập 30, trang 253 – 256C). Luận N0 1573 do Đại sư Cù Đàm Bát Nhã Lưu Chi Hán dịch vào đời Nguyên Ngụy  (339 – 534). Ba Luận còn lại do Đại sư Thi Hộ (Hậu bán thế kỷ 10 – đầu thế kỷ 11 Tl) Hán dịch vào đời Triệu Tống (960 – 1276). Có thể xem đây là những phác thảo để dẫn đến Bát Bất Trung đạo của Trung Luận.

b. Tác phẩm của Bồ tát Đề Bà:
* Bách Luận (Satásàstra): Khai sĩ Bà Tẩu giải thích, Pháp sư Cưu Ma La Thập Hán dịch, 2 quyển (N0 1569, trang 167C – 182A). Theo Đại sư Tăng Triệu, nơi Lời Tựa của bản Hán dịch thì Bách Luận có 20 phẩm, mỗi phẩm có 5 kệ, nhưng bản Hán dịch chỉ dịch 10 phẩm của phần đầu, 10 phẩm của phần sau chưa dịch. Tuy nhiên bản giải thích của Khai sĩ Bà Tẩu ở đây có nêu 10 phẩm (Phẩm 1 – 10) nhưng không thấy nêu dẫn kệ, chỉ dùng lối Hỏi – Đáp (Ngoại nêu – Nội nói) để tranh biện, quảng diễn, nhằm bác bỏ những tà kiến của ngoại đạo.
* Bách Tự Luận: N0 1572, 1 quyển, Hán dịch là Đại sư Bồ Đề Lưu Chi (Thế kỷ 6 TL), dịch vào đời Hậu Ngụy (339 – 534), được xem là một tóm lược của Bách Luận (Trang 250B – 252).
* Quảng Bách Luận Bản: N0 1570, 1 quyển, 200 kệ (4 câu 5 chữ), Hán dịch là Pháp sư Huyền Tráng (602 – 664), dịch vào đời Đường (618 – 906). Bồ tát Đề Bà còn có tác phẩm Tứ Bách Luận (Càtuhsataka, gồm 16 phẩm, 400 kệ), có thể xem là sự khai triển từ Bách Luận. Tác phẩm này đã được Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch. Nhưng Pháp sư chỉ dịch nửa sau của Luận gồm 8 phẩm, 200 kệ (4 câu 5 chữ), lấy tên là Quảng Bách Luận Bản (N0 1570, trang 182A – 186). Quảng Bách Luận Bản đã được Luận sư Hộ Pháp giải thích, luận giảng và cũng được Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch: Đại Thừa Quảng Bách Luận Thích Luận (N0 1571, 10 quyển, Tập 30, trang 187 – 250B).
* Luận Đại Trượng Phu: N0 1577, 2 quyển, Hán dịch là Đại sư Đạo Thái (Hậu bán thế kỷ 4 – đầu thế kỷ 5 TL) dịch vào đời Bắc Lương (397 – 439) (Trang 256C – 268A). ĐTK/ĐCTT ghi tác giả Luận Đại Trượng Phu là Bồ tát Đề Ba La. ĐTĐ Phật Quang (Trang 1198A-B), mục Ngũ Luận sư đã viết về Bồ tát Đề Bà: Là đệ tử của Bồ tát Long Thọ, tác giả Bách Luận, Luận Đại Trượng Phu… Như vậy, Bồ tát Đề Bà La và Bồ tát Đề Bà là một. Luận Đại Trượng Phu gồm 29 phẩm ngắn. Hai phẩm đầu là kệ, các phẩm còn lại phần nhiều là văn xuôi. Nội dung của Luận là bàn về những tư lương của Bồ tát trong quá trình hành hóa độ sinh như Hành thí, Hành xả, Phát tâm Bồ đề, Hiện bày tâm bi v.v… Đáng lẽ nên sắp nơi Bộ Du Già, thuộc hệ về Địa Bồ tát của Luận Du Già, nhưng vì là tác phẩm của Bồ tát Đề Bà nên sắp ở phần này. c. Tác phẩm của Luận sư Thanh Biện: Luận Đại Thừa Chưởng Trân: N0 1578, 2 quyển, Hán dịch là Pháp sư Huyền Tráng (602 – 664), dịch vào đời Đường (Trang 268A – 278B). Nội dung của Luận là “Dùng luận pháp của nhân minh, luận phá các kiến chấp sai lầm của ngoại đạo, Tiểu thừa, Đại thừa hữu tông, nhằm chứng đắc thật nghĩa của Đại thừa không tông. Ra sức đề xướng việc dùng không trí để xa lìa các thứ phân biệt về có không, hoàn thành tám Chánh đạo, sáu Ba la mật.
 

II. Bộ Du Già.

Bộ Du Già được phân làm 2 phần:
  • Phần 1: Giới thiệu Luận chính (Luận Du Già Sư Địa) và các Luận biệt hành của Luận Du Già Sư Địa (ĐTK/ĐCTT, Tập 30, trang 297 – 1035B, từ N0 1579 – N0 1584).
  • Phần 2: Giới thiệu các luận liên hệ (ĐTK/ĐCTT, toàn tập 31, từ N0 1585 – N0 1627). Ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu tóm lược về phần 1.
 

1. Luận Du Già Sư Địa (Phạn: Yogacàrabhùmi – sàstra):

Tác giả là Bồ tát Di Lặc (Maitreya) thuyết giảng, Đại sĩ Vô Trước (Asànga) ghi chép, Hán dịch là Pháp sư Huyền Tráng (602 – 664), gồm 100 quyển (Tập 30, N0 1579, trang 279 – 882A). Đây là một trong ba Bộ Luận thuộc loại đồ sộ bậc nhất hiện có trong Hán Tạng(1), là một trong những tác phẩm căn bản nhất của Tông Duy thức – Pháp tướng, là một trong các Bộ Luận nổi tiếng nhất của Phật giáo Bắc truyền thuyết minh quảng diễn rất đầy đủ về Địa Bồ tát với những quá trình nhận thức, hành trì, tu tập chứng đắc đạo quả Bồ đề vô thượng của Bồ tát Đại thừa. Du Già (Yoga) là từ phiên âm, dịch nghĩa là Tương ưng. Đó là pháp hành quán dựa vào phương thức điều hòa hơi thở để tập trung tâm niệm vào một điểm, lấy việc tu chỉ – quán (Xa ma tha, Tỳ bát xá na) làm chính, nhằm đạt tới chỗ nhất trí, tương ưng hài hòa giữa tâm – cảnh. Người thực hành pháp Quán Du Già gọi là Sư Du Già. Cảnh giới mà Sư Du Già dựa vào để thực hành gọi là Địa của Sư Du Già. Theo Đại sư Khuy Cơ (632 – 682) trong Thành Duy Thức Thuật Ký thì Tương ưng có 5 nghĩa: * Tương ưng với cảnh: Tức không trái với tự tánh của tất cả các pháp. * Tương ưng với hành: Nghĩa là cùng với các hành như định, tuệ tương ưng. * Tương ưng với lý: Tức tương ưng với lý an lập, phi an lập nơi hai đế. * Tương ưng với quả: Nghĩa là có thể chứng đắc đạo quả Bồ đề vô thượng. * Tương ưng với căn 1 Hai Bộ Luận kia là: Luận Đại Trí Độ, Pháp sư Cưu Ma La Thập Hán dịch, 100 quyển, hơn 700 trang Hán tạng (ĐTK/ĐCTT, Tập 25, N0 1509).

Luận A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa:

Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch, 200 quyển, hơn 1000 trang Hán tạng (ĐTK/ĐCTT, Tập 27, N0 1545).cơ: Tức đã đạt được quả viên mãn thì cứu độ tạo lợi ích cho chúng sinh theo cơ duyên ứng – cảm, thuốc – bệnh tương ưng. Luận Du Già Sư Địa mô tả pháp quán của Hành Du Già (Yogacàra) chủ trương đối tượng khách quan chỉ là hiện tượng giả hiện của Thức A lại da (Àlaya – vijnàna) thuộc tâm thức căn bản của loài người, cần xa lìa những quan niệm đối lập như có – không, tồn tại không tồn tại… thì mới có thể Ngộ nhập Trung đạo (Phật Quang ĐTĐ, trang 5531 B-C). Thật ra thì đấy chỉ là những tóm tắt về các điểm chính yếu của Luận, vì nơi mỗi phần, nơi mỗi mỗi Địa của Luận, các chi tiết hiện có cùng liên hệ đã được nêu bày và quảng diễn là hết sức bao quát, phong phú. Vì Luận đã giải thích rộng về 17 Địa, là đối tượng nương dựa, đối tượng hành trì của Sư Du Già, nên Luận còn gọi là Luận Thập Thất Địa. Lại do nơi 17 Địa ấy, 2 Địa được thuyết minh cùng quảng diễn đầy đủ hơn hết là Địa Thanh văn và Địa Bồ tát, nên Luận được xem là một kho báu lớn cho việc nghiên cứu tìm hiểu về tư tưởng của Phật giáo Tiểu thừa cùng Phật giáo Đại thừa. Toàn Luận được phân làm 5 phần chính: Phần Bản Địa. Phần Nhiếp Quyết Trạch. Phần Nhiếp Thích. Phần Nhiếp Dị Môn. Phần Nhiếp Sự. a. Phần Bản Địa: Gồm 50 quyển đầu, lần lượt thuyết minh biện rộng về 17 Địa là: (1) Địa năm thức thân tương ưng. (2) Địa ý. (3) Địa có tầm có tứ. (4) Địa không tầm chỉ có tứ. (5) Địa không tầm không tứ. (6) Địa tam ma hí đa. (7) Địa phi tam ma hí đa. (8) Địa có tâm. (9) Địa không tâm. (10) Địa do văn tạo thành. (11) Địa do tư tạo thành. (12) Địa do tu tạo thành. (13) Địa Thanh văn. (14) Địa Độc giác. (15) Địa Bồ tát. (16) Địa hữu dư y. (17) Địa vô dư y. Chữ Địa (Phạn: Bhùmi) ở đây có nghĩa là cảnh giới, biên vực hành tác, tu trì, chứng quả của hành giả Du già. Nơi 9 địa đầu là thuyết minh về cảnh của ba thừa, quán xét cảnh ấy tức có thể dấy khởi hành của 6 địa tiếp theo (Địa 10 – 15). Lại dựa nơi hành ấy để có thể chứng đắc quả của 2 địa sau cùng (Địa 16, 17). Do đấy đã biểu thị về thứ lớp thuận hợp của cảnh, hành, quả. b. Phần Nhiếp Quyết Trạch: Gồm từ quyển 51 đến quyển 80, là nhiếp quyết trạch về 16 Địa đã nêu dẫn, biện giải ở trước (Không nói đến Địa Độc giác). Nhiếp là thâu tóm, gồm thâu. Quyết trạch là quyết đoán, phân biệt chọn lựa. Quyết đoán đối với các nghi. Phân biệt chọn lựa về những nghĩa tiêu biểu. Ý chính của phần này là làm rõ các nghĩa lý sâu xa nơi các địa đã được giải thích quảng diễn. Toàn phần được phân làm 12 phần (Quyết trạch về 2 địa đầu. Quyết trạch về 3 địa tiếp theo… Quyết trạch về địa Thanh văn. Quyết trạch về địa Bồ tát…). c. Phần Nhiếp Thích: Gồm 2 quyển 81, 82 và phân làm 2 đoạn: Nhiếp thích là giải thích, biện rộng về những nghi tắc của các kinh (Như: Những gì là hai thứ Thể của Khế kinh? Văn. Nghĩa. Những gì là sáu thứ Văn? Những gì là mười thứ Nghĩa?...). d. Phần Nhiếp Dị Môn: Gồm 2 quyển 83, 84 và cũng phân làm 2 đoạn. Gồm thâu môn khác (Nhiếp Dị Môn) là giải thích làm rõ về những Danh Nghĩa sai biệt hiện có trong kinh. đ. Phần Nhiếp Sự: Gồm 16 quyển cuối của Luận, tức từ quyển 85 đến quyển 100, được phân làm 6 đoạn chính: (Nhiếp sự là giải thích biện biệt về các nghĩa chính yếu nơi 3 Tạng Kinh, Luật, Luận) (1) Sự Khế kinh: Lựa chọn gồm thâu về Hành. (2) Sự Khế kinh: Lựa chọn gồm thâu về Xứ. (3) Sự Khế kinh: Lựa chọn gồm thâu về Duyên khởi. Thực (Ăn). Đế. Giới. (4) Sự Khế kinh: Lựa chọn gồm thâu về Pháp Bồ đề phần. (5) Sự Điều phục: Lựa chọn gồm thâu chung. (6) Sự Bản mẫu: Nêu dẫn. Biện giải. Gồm thâu… Trong 17 Địa của Phần Bản Địa thì Địa Bồ tát (Địa 15) có số lượng quyển và trang nhiều nhất: Gồm từ quyển 35 đến quyển 49 và 4/5 quyển 50, gần 100 trang Hán tạng, cũng là phần quan trọng nhất của Luận: Toàn bộ các vấn đề thuộc về Bồ tát cùng liên hệ với Bồ tát đã được Luận nêu dẫn, giải thích, quảng diễn đầy đủ. Địa Bồ tát được phân làm 4 đoạn chính: (1) Đoạn thứ 1: Trì xứ Du Già: Từ quyển 35 đến quyển 46: Nêu dẫn quảng diễn về 18 phẩm. (2) Đoạn thứ 2: Trì xứ Du Già tùy pháp: Từ quyển 47 đến hơn 3/4 quyển 48: Nêu dẫn quảng diễn về 4 phẩm. (3) Đoạn thứ 3: Trì xứ Du Già cứu cánh: Từ non 1/4 quyển 48 đến 2/3 quyển 50: Nêu dẫn quảng diễn về 5 phẩm. (4) Đoạn thứ 4: Trì xứ Du Già thứ lớp. Gồm 1 trang của quyển 50: Nêu dẫn quảng diễn về 1 phẩm. Luận Du Già Sư Địa được truyền vào Trung Hoa khá sớm, nhưng chưa đầy đủ. Các bản Hán dịch của các Đại sư Đàm Vô Sấm, Cầu Na Bạt Ma (Cả hai đều gọi là Kinh), Chân Đế (Luận Quyết Định Tạng) là những phần, những đoạn của Luận Du Già Sư Địa, sẽ được nói đến nơi phần các Luận biệt hành.

2. Các Luận biệt hành.

a. Kinh Bồ Tát Địa Trì:
Do Đại sư Đàm Vô Sấm (Dharmaraksa 385 – 433) Hán dịch vào đời Bắc Lương (397 – 439) gồm 10 quyển (Tập 30, N0 1581, trang 888A – 959B) tức là Địa Bồ tát (Địa 15) trong Phần Bản Địa của Luận Du Già Sư Địa. Bản Hán dịch này tương tợ như bố cục nơi Địa Bồ tát: Phân làm 3 đoạn chính: Xứ phương tiện thứ nhất: Gồm 18 phẩm. Xứ phương tiện thứ pháp: Gồm 4 phẩm. Xứ phương tiện tất cánh: Gồm 5 phẩm (Thiếu 1 phẩm của Đoạn thứ 4). Phần mở đầu và phần cuối cũng như nơi Luận. b. Kinh Bồ Tát Thiện Giới: Do Đại sư Cầu Na Bạt Ma (Gunavarman 367 – 431) Hán dịch vào đời Lưu Tống (420 – 478) gồm 9 quyển (Tập 30, N0 1582, trang 960 – 1013C). Bản Hán dịch của Đại sư Cầu Na Bạt Ma cũng chia làm 3 đoạn chính (Nhưng có thêm). Địa Bồ tát gồm 20 phẩm. Trụ như pháp gồm 4 phẩm. Địa tất cánh gồm 6 phẩm. Phần Mở đầu có Phẩm Tự như Phẩm Tự nơi các bản kinh thông thường (Tôi nghe như vầy…). Phần cuối có sự việc Tôn giả Ưu Ba Ly hỏi Đức Thế Tôn về danh hiệu của bản kinh này v.v… cùng y giáo phụng hành. c. Kinh Bồ Tát Thiện Giới: N0 1583, 1 quyển, Tập 30, trang 1013C – 1018B. Do Đại sư Cầu Na Bạt Ma Hán dịch, là tương đương với phẩm 10 (Giới) trong 18 phẩm thuộc Đoạn thứ 1: Trì xứ Du Già nơi Địa Bồ tát của Luận Du Già Sư Địa. d. Luận Quyết Định Tạng: N0 1584, 3 quyển (Tập 30, trang 1018B – 1035B). Do Đại sư Chân Đế (Paramàrtha. 499 – 569) Hán dịch vào đời Trần (557 – 588) ở phương Nam, tức là đoạn đầu của Phần Nhiếp Quyết Trạch (Phần 2), từ quyển 51 – 54 nơi Luận Du Già Sư Địa. Lưu hành ở Ấn Độ, Luận Du Già Sư Địa đã góp phần lớn cho sự việc hình thành Trường phái Du Già (Duy Thức) một trong hai trường phái lớn của Phật giáo Đại thừa thời kỳ phát triển, với các vị Luận sư nổi tiếng nối tiếp sự nghiệp hoằng hóa của hai vị Bồ tát đi trước là Vô Trước, Thế Thân. Đó là chư vị Luận sư Thân Thắng, Hỏa Biện, Đức Tuệ, An Tuệ, Hộ Pháp, Giới Hiền. Một vị Luận sư thuộc môn hạ của Luận sư Hộ Pháp tên Tối Thắng Tử (Phạn: Jinaputra. Đọc theo phiên âm là Thần Na Phất Đa La), tác giả sách Du Già Sư Địa Luận Thích, giải thích tóm tắt về 17 Địa trong Luận Du Già Sư Địa. Tác phẩm này cũng được Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch: Tập 30, N0 1580, 1 quyển, trang 883 – 888A. Mảng luận khá nhiều thuộc phần liên hệ sẽ được đề cập trong phần giới thiệu về nội dung tập 31.
 

Xem qua một vài trang sách

Xin quý khách bấm vào hình ảnh thu nhỏ của trang sách muốn xem dưới đây để bật công cụ phóng to. Trên công cụ phóng to, rê chuột vào bên lề phải-lề trái để hiện các nút sang phải, sang trái. Nhấn vào các nút sang phải, sang trái để lật giở sách. Nhấn nút x để đóng

Độc giả bình luận về sách

Quý vị có thể bình luận hoặc nêu các câu hỏi đáp về sản phẩm dưới đây, chúng tôi sẽ trả lời cũng tại mục bình luận này

Số ký tự được gõ là 250

Đầu sách cùng loại