Xem bản: desktop Desktop | mobile Mobile
Nhà sách duy nhất về Phật giáo nằm tại trung Tâm Hà Nội

09:31 ICT Thứ tư, 22/05/2019
  • Nhà sách nhận in ấn tất cả các kinh sách của Phật Giáo và tượng Phật gửi đi tất cả các tỉnh thành đến tận nhà hoặc chùa. A Di Đà Phật!
     

Hỗ trợ liên hệ

Nhà sách phật giáo Tịnh Liên
  • address 187 Bà Triệu - Hà Nội
  • phone Gmail: nhasachtinhlien187
  • phone Điện thoại: 043 974 8417
  • phone Di động: 094 278 3333

Tìm kiếm sách

Từ khóa
Giá từ
Đến

Trên Google+

Trên Facebook

Luận tạng phật giáo Tuệ Quang - Tập 26

Mã sản phẩm: S0267 - 315 Lượt xem
Luận tạng phật giáo Tuệ Quang - Tập 26 gồm 5 cuốn trong bộ Đại Tạng Kinh, phần Luận (từ tập 25 đến tập 32) của Tuệ Quang Foundation biên soạn và xuất bản Hồng Đức phát hành
Nhà xuất bản : Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm xuất bản : 2015
Số trang : 5000
Lưu ý : Tập 26 gồm 5 cuốn đóng bìa cứng
Chia sẻ :

GIỚI THIỆU TÓM LƯỢC VỀ NỘI DUNG TẬP 26

Nội dung Tập 26 gồm 2 phần:
  • Phần 1: Từ N0 1519 đến N0 1535: Là tập hợp giới thiệu các Luận thuộc Bộ Thích Kinh Luận, tiếp theo Tập 25.
  • Phần 2: Từ N0 1536 đến N0 1544: Là tập hợp giới thiệu các Luận thuộc Bộ Tỳ Đàm.

Phần 1. Các Luận thuộc Bộ Thích Kinh Luận.

Các Kinh được giải thích ở đây gồm: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Phẩm Thập Địa của Kinh Hoa Nghiêm. Hội thứ 43 của Kinh Đại Bảo Tích. Kinh Vô Lượng Thọ. Kinh Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn. Phẩm thứ 11 của Kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập. Kinh Niết Bàn. Kinh Di Giáo. Kinh Phật Địa. Kinh Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Vấn Bồ Đề. Kinh Thắng Tư Duy Phạm Thiên Sở Vấn. Kinh Chuyển Pháp Luân. Kinh Tam Cụ Túc. Kinh Đại Thừa Tứ Pháp.
Tác giả của các bản Luận Thích Kinh kể trên là chư vị Bồ tát: Long Thọ, An Tuệ, Thân Quang, và nhiều nhất là tác phẩm của Bồ tát Thế Thân.

1. Tác phẩm của Bồ tát Long Thọ:

Luận Thập Trụ Tỳ Bà Sa: N0 1521, Hán dịch là Pháp sư Cưu Ma La Thập, dịch vào đời Hậu Tần (384-417), gồm 17 quyển, nội dung là giải thích Phẩm Thập Địa của Kinh Hoa Nghiêm (Phẩm thứ 26, Kinh Hoa Nghiêm bản 80 quyển)
Phẩm Thập Địa là một trong những phẩm tiêu biểu của Kinh Hoa Nghiêm. Mười Địa là chỉ cho 10 loại thứ bậc trên con đường tu tập của Bồ tát Đại thừa.
Toàn bộ Luận được phân làm 35 phẩm: Phần đầu của Phẩm thứ 1 (Phẩm Tự), sau khi nêu kệ đảnh lễ Tam bảo là nói qua nhân duyên tạo luận, ý nghĩa của 10 địa Bồ tát, biện rõ về 3 thừa, tiếp đấy cho đến hết phẩm 27 là chú giải về Địa thứ nhất (Địa Hoan Hỷ). Từ phẩm 28 đến hết phẩm 35 là chú giải khoảng một nửa (½) Địa thứ hai (Địa Ly Cấu).
Như vậy, hoặc là Tác giả mới chỉ giải thích từng ấy, hoặc là Dịch giả dịch chưa hết?

2. Tác phẩm của Luận sư An Tuệ:

Luận Kinh Đại Bảo Tích: N0 1523, Hán dịch là Đại sư Bồ Đề Lưu Chi (Thế kỷ thứ 6 TL), dịch vào đời Nguyên Ngụy (339-556), gồm 4 quyển. ĐTK/ĐCTT không ghi tên tác giả, nhưng Đại Từ Điển Phật Quang căn cứ theo bản dịch của Tây Tạng thì tác giả là Luận sư An Tuệ (475-555), một trong mười Đại Luận sư thuộc hệ phái Duy Thức, sống đồng thời với Luận sư Hộ Pháp, tác giả các Bộ Luận: Luận Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tạp Tập (16 quyển), Đại Thừa Trung Quán Thích Luận (9 quyển) v.v...
Tác phẩm Luận Kinh Đại Bảo Tích tuy mang tên là Luận giải thích Kinh Đại Bảo Tích, nhưng nội dung chỉ giải thích Hội thứ 43 (Hội Bồ Tát Phổ Minh, 1 quyển, gọi là Kinh Bảo Tích Cổ) của Kinh Đại Bảo Tích 120 quyển, do Đại sư Bồ Đề Lưu Chí (562-727) dịch và tập hợp.
Bản Luận mở đầu là 2 kệ bày tỏ sự quy kính Đức Thế Tôn cùng nói qua ý nguyện tạo luận. Tiếp theo là giải thích về danh nghĩa của Bảo Tích, một Kinh Bảo Tích gồm thâu hết tất cả pháp Đại thừa, trong đó Đức Như Lai đã vì các Bồ tát giảng nói mười sáu thứ tướng sai biệt, nên gọi là Bảo Tích. Sau đấy, tác giả căn cứ theo văn kinh, dùng thể Hỏi – Đáp để lần lượt giải thích quảng diễn về ý nghĩa.

3. Tác phẩm của Luận sư Thân Quang:

Luận Kinh Phật Địa: N0 1530, Hán dịch là Pháp sư Huyền Tráng (602-664), dịch vào đời Đường (618-906), gồm 7 quyển, nội dung là giải thích, quảng diễn Kinh Phật Địa (ĐTK/ĐCTT, T16, N0 680, Hán dịch là Pháp sư Huyền Tráng, 1 quyển). Luận sư Thân Quang thuộc hệ phái Duy Thức, sống vào khoảng hậu bán thể kỷ 6 TL, tương truyền là môn nhân của Luận sư Hộ Pháp.
Tác giả đã phân Kinh Phật Địa ra làm 3 phần: Nhân duyên khởi giáo, Thánh giáo được thuyết giảng và Y theo giáo pháp phụng hành, theo đấy để giải thích kinh.
Từ quyển 1 đến hết quyển 2: Là phần Nhân duyên khởi giáo. Từ quyển 3 đến cuối quyển 7: Là phần Thánh giáo được thuyết giảng, lần lượt giải thích về 5 thứ pháp đã gồm thâu Địa Đại giác: (1) Pháp giới thanh tịnh. (2) Trí Đại viên cảnh. (3) Trí Bình đẳng tánh. (4) Trí Diệu quan sát. (5) Trí Thành sở tác. Từ cuối quyển 7 đến hết kinh: Là phần Y theo giáo pháp phụng hành.

4. Tác phẩm của Bồ tát Thế Thân:

a. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Ưu Ba Đề Xá: Luận nầy có 2 bản Hán dịch:
* Bản 1: Do Đại sư Bồ Đề Lưu Chi và Đàm Lâm Hán dịch vào khoảng đầu thế kỷ 6 TL đời Hậu Ngụy (339-556) gồm 2 quyển (N0 1519).
* Bản 2: Do Đại sư Lặc Na Ma Đề cùng Tăng Lãng Hán dịch, cũng vào đời Hậu Ngụy (còn gọi là Bắc Ngụy, Nguyên Ngụy), gồm 1 quyển (N0 1520), nội dung cũng như Bản 1 nhưng không có kệ mở đầu (14 câu) và các chi tiết đều ít hơn.
Luận tuy mang tên là Giải thích Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhưng thật sự chỉ giải thích 3 Phẩm đầu của Kinh là Phẩm Tự, Phẩm Phương Tiện và Phẩm Thí Dụ. Nơi mỗi phẩm, tác giả cũng chỉ nêu dẫn những điểm chính để khai triển, quảng diễn.
Như nơi Phẩm Tự, tác giả nêu dẫn đoạn kinh mở đầu rồi nói đến 7 thứ công đức được thành tựu: (1) Thành tựu về phần mở đầu. (2) Thành tựu về chúng hội. (3) Thành tựu về thời gian thích hợp để Đức Như Lai thuyết pháp. (4) Thành tựu về chỗ dựa nơi pháp được nêu giảng với uy nghi tùy thuận an trụ. (5) Thành tựu về chỗ nương dựa nơi nhân thuyết giảng. (6) Thành tựu về việc đại chúng hiện tiền nhằm nghe pháp. (7) Thành tựu về việc Bồ tát Văn Thù Sư Lợi đáp lại.
Nơi mỗi thứ công đức được thành tựu nầy sẽ được khai triển để biện giải. Như thành tựu về chúng hội có 4 thứ nghĩa chỉ rõ: (a) Thành tựu về số lượng. (b) Thành tựu về hạnh. (c) Thành tựu về thâu tóm công đức. (d) Thành tựu về uy nghi như pháp trụ v.v...
b. Luận Kinh Thập Địa: N0 1522, Hán dịch là Đại sư Bồ Đề Lưu Chi, gồm 12 quyển, nội dung là giải thích Kinh Thập Địa, tức Phẩm Thập Địa, Phẩm thứ 26 trong 39 phẩm của Kinh Hoa Nghiêm, bản 80 quyển (ĐTK/ĐCTT, T10, N0 279, Hán dịch là Đại sư Thật Xoa Nan Đà “652-710”, dịch vào khoảng năm 695-699 đời Đường).
Mười Địa là chỉ cho mười loại thứ bậc trên con đường tu tập của Bồ tát Đại thừa, gồm: (1) Địa Hoan Hỷ. (2) Địa Ly Cấu. (3) Địa Minh. (4) Địa Diệm. (5) Địa Nan Thắng. (6) Địa Hiện Tiền. (7) Địa Viễn Hành. (8) Địa Bất Động. (9) Địa Thiện Tuệ. (10) Địa Pháp Vân. Nơi mỗi Địa, dựa theo văn kinh, tác giả phân ra nhiều phần, và theo từng phần ấy để khai triển, quảng diễn.
Như nơi Địa thứ nhất (Địa Hoan Hỷ), tác giả phân ra 8 phần: (1) Phần Mở đầu. (2) Phần Nhập tam muội. (3) Phần Gia hộ. (4) Phần Phát khởi. (5) Phần Gốc. (6) Phần Thỉnh cầu. (7) Phần Thuyết giảng. (8) Phần Đối chiếu chỗ thù thắng.
Nơi Địa Ly Cấu (Địa thứ hai), nhờ vào giới thanh tịnh có 2 thứ thanh tịnh: (1) Thanh tịnh phát khởi. (2) Thanh tịnh tự thể. Thanh tịnh phát khởi: Là nói về mười thứ tâm. Thanh tịnh tự thể: Là nói về ba thứ giới v.v...
c. Kinh Vô Lượng Thọ Ưu Ba Đề Xá: N0 1524, Hán dịch là Đại sư Bồ Đề Lưu Chi, gồm 1 quyển. Bồ tát Thế Thân đã căn cứ theo nội dung của Kinh Vô Lượng Thọ, tạo ra 24 kệ (96 câu 5 chữ) gọi là Kệ Nguyện Sinh, lại nêu dẫn 5 môn nhớ nghĩ (Niệm): (1) Môn lễ bái. (2) Môn tán thán. (3) Môn tạo nguyện. (4) Môn quan sát. (5) Môn hồi hướng. Đối chiếu với kệ để lần lượt giải thích, quảng diễn. (Bản Luận này được xem là một Luận trong ba Kinh một Luận căn bản của Tịnh Độ Tông (Ba kinh kia là: Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ và Kinh A Di Đà).
d. Kinh Bảo Kế Tứ Pháp Ưu Ba Đề Xá: N0 1526, Hán dịch là Đại sư Tỳ Mục Trí Tiên, dịch vào khoảng đầu thế kỷ 6 TL đời Nguyên Ngụy (399-556), gồm 1 quyển, nội dung là giải thích quảng diễn về 4 pháp trong Kinh Bảo Kế, tức Phẩm Bồ Tát Bảo Kế, Phẩm thứ 11 trong 17 Phẩm của Kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập, 60 quyển, do Đại sư Tăng Tựu tập hợp (ĐTK/ĐCTT, T13, N0 397). Bốn thứ pháp phát khởi tinh tấn của Bồ tát không lìa bố thí là: (1) Phát khởi tinh tấn với đầy đủ tất cả chúng sinh. (2) Phát khởi tinh tấn với đầy đủ tất cả pháp Phật. (3) Phát khởi tinh tấn với tướng tùy hình hảo trọn vẹn. (4) Phát khởi tinh tấn với thế giới Phật thanh tịnh.
đ. Luận Niết Bàn: N0 1527, Hán dịch là Đại sư Đạt Ma Bồ Đề, dịch vào đời Hậu Ngụy, gồm 1 quyển, nội dung là giải thích, biện minh về một số điểm tiêu biểu nơi Kinh Đại Bát Niết Bàn. Bồ tát Thế Thân dựa theo nội dung Kinh nêu ra 7 phần chính: (1) Từ: Như thế, cho đến: Máu tuôn chảy khắp trên đất: Gọi là Phần Thị hiện lần nữa thần thông không thể nghĩ bàn. (2) Hai phẩm Thuần Đà than khóc: Gọi là Phần Thành tựu chủng tánh dứt trừ chấp trước. (3) Từ: Ba lần bảo cho biết, đến hết Phẩm Đại Chúng Thưa Hỏi: Gọi là Phần Nêu nghĩa thật của chánh pháp. (4) Năm hạnh, mười công đức: Gọi là Phần Phương tiện tu thành. (5) Phẩm Sư Tử Hống: Gọi là Phần Lìa các thứ phóng dật, đạt chứng nhập. (6) Phẩm Ca Diếp: Gọi là Phần Ánh sáng từ bi khéo léo trụ trì. (7) Phẩm Kiều Trần Như: Gọi là Phần Hiển bày tướng. Qua đấy, tùy chỗ liên hệ, nêu câu hỏi và lần lượt giải đáp, biện minh.
e. Luận Kinh Niết Bàn Bản Hữu Kim Vô Kệ: N0 1528, Hán dịch là Đại sư Chân Đế (499-569), dịch vào đời Trần (557-588), gồm 1 quyển, nội dung là giải thích quảng diễn kệ: Bản hữu kim vô (Xưa có nay không) trong Kinh Đại Bát Niết Bàn.
f. Luận Kinh Di Giáo: N0 1529, Hán dịch là Đại sư Chân Đế, gồm 1 quyển, nội dung là giải thích Kinh Di Giáo, tức là những lời dạy sau cùng của Đức Thế Tôn trước khi nhập Niết bàn. Dựa theo nội dung kinh, Bồ tát Thế Thân nêu pháp tu hành của Bồ tát gồm có 7 phần: (1) Phần Mở đầu. (2) Phần Tu tập công đức thế gian. (3) Phần Thành tựu công đức của bậc Đại nhân xuất thế gian. (4) Phần Hiển bày công đức thâm diệu, rốt ráo. (5) Phần Hiển bày quyết định nhập chứng. (6) Phần Phân biệt chưa nhập chứng bậc tối thượng là đoạn trừ nghi. (7) Phần Vô ngã thanh tịnh, lìa các thứ tự tánh. Theo thứ lớp của bảy phần ấy, đối chiếu với văn kinh, tác giả lần lượt giải thích, quảng diễn đầy đủ về ý nghĩa của kinh.
g. Luận Kinh Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Vấn Bồ Đề: N0 1531, Hán dịch là Đại sư Bồ Đề Lưu Chi, dịch vào đời Nguyên Ngụy, gồm 2 quyển, nội dung là giải thích Kinh Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Vấn Bồ Đề. Kinh nầy có 4 bản Hán dịch mang số hiệu: 464, 465, 466, 467 thuộc Tập 14, ĐTK/ĐCTT. Cũng như một số tác phẩm cùng loại, mở đầu tác giả nêu kệ quy kính cùng nói qua việc tạo luận (8 câu), tiếp theo căn cứ nơi nội dung kinh phân làm 9 phần: (1) Phần Mở đầu. (2) Phần Đệ tử thành tựu đáng được nghe. (3) Phần Tam muội. (4) Phần Chủ thể quán thanh tịnh. (5) Phần Pháp của đối tượng được quán. (6) Phần Phát khởi. (7) Phần Giảng nói. (8) Phần Uy lực công đức của Bồ tát. (9) Phần Hành của Bồ tát có sai biệt. Theo thứ lớp của chín phần như thế, kết hợp với văn kinh, tác giả lần lượt biện giải, quảng diễn về diệu nghĩa của kinh.
h. Luận Kinh Thắng Tư Duy Phạm Thiên Sở Vấn: N0 1532, Hán dịch là Đại sư Bồ Đề Lưu Chi, dịch vào đời Nguyên Ngụy, gồm 4 quyển, nội dung là giải thích quảng diễn nghĩa lý của Kinh Thắng Tư Duy Phạm Thiên Sở Vấn. Kinh nầy có 3 bản Hán dịch mang số hiệu: 585, 586, 587 thuộc Tập 15 ĐTK/ĐCTT. Kinh Thắng Tư Duy Phạm Thiên Sở Vấn thuật lại sự việc Đức Thế Tôn đã vì các Bồ tát như Võng Minh, Phạm Thiên Thắng Tư Duy (Pháp sư Trúc Pháp Hộ dịch là Phạm Thiên Trì Tâm. Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch là Phạm Thiên Tư Ích) thuyết giảng về diệu lý không tịch của các pháp. Bồ tát Thế Thân, nơi Luận nầy, chỉ căn cứ theo văn kinh, lần lượt giải thích, khai triển, quảng diễn.
i. Hai Luận: Kinh Chuyển Pháp Luân Ưu Ba Đề Xá N0 1533 và Kinh Tam Cụ Túc Ưu Ba Đề Xá N0 1534, đều do Đại sư Tỳ Mục Trí Tiên (thế kỷ 6 TL) Hán dịch vào đời Nguyên Ngụy, nội dung là quảng diễn những điểm chính yếu của hai bản kinh ngắn kể trên.
Như nơi Kinh Chuyển Pháp Luân, tác giả nêu ra 12 câu hỏi, rồi theo đấy lần lượt biện giải.
Còn ở Kinh Tam Cụ Túc thì quảng diễn 3 thứ luôn đầy đủ của Bồ tát là Thí, Giới, Nghe (Kiến thức).

5. Ngoài ra:

a. Luận Kinh Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn: N0 1525, Hán dịch là Đại sư Bồ Đề Lưu Chi, dịch vào đời Hậu Ngụy, gồm 9 quyển, không ghi tác giả, nội dung là giải thích Kinh Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn (Kinh nầy tương đương với Hội thứ 42 – Hội Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn, quyển 111 – trong 49 Hội, 120 quyển của Kinh Đại Bảo Tích). Tác giả nêu dẫn toàn văn của kinh, sau đấy lần lượt giải thích, quảng diễn rất đầy đủ về các chi tiết, các ý nghĩa hàm chứa cùng liên hệ nơi kinh.
b. Luận Thích Kinh Đại Thừa Tứ Pháp: N0 1535 (Không ghi Tác giả và Dịch giả), là những giải thích ngắn ngọn về nội dung Kinh Đại Thừa Tứ Pháp (Kinh nầy có 3 bản Hán dịch mang số hiệu: 772, 773, 774 thuộc Tập 17, ĐTK/ĐCTT).

Quý độc giả có thể xem trước một số trang sách
Đại tạng kinh - tổng luận

Trang tổng luận

Đại tạng kinh - một trang sách

Tóm lược phần Đại Tạng Kinh

Xem qua một vài trang sách

Xin quý khách bấm vào hình ảnh thu nhỏ của trang sách muốn xem dưới đây để bật công cụ phóng to. Trên công cụ phóng to, rê chuột vào bên lề phải-lề trái để hiện các nút sang phải, sang trái. Nhấn vào các nút sang phải, sang trái để lật giở sách. Nhấn nút x để đóng

Độc giả bình luận về sách

Quý vị có thể bình luận hoặc nêu các câu hỏi đáp về sản phẩm dưới đây, chúng tôi sẽ trả lời cũng tại mục bình luận này

Số ký tự được gõ là 250

Đầu sách cùng loại