Xem bản: desktop Desktop | mobile Mobile
Nhà sách duy nhất về Phật giáo nằm tại trung Tâm Hà Nội

02:43 EDT Thứ sáu, 19/07/2019
  • Nhà sách nhận in ấn tất cả các kinh sách của Phật Giáo và tượng Phật gửi đi tất cả các tỉnh thành đến tận nhà hoặc chùa. A Di Đà Phật!
     

Hỗ trợ liên hệ

Nhà sách phật giáo Tịnh Liên
  • address 187 Bà Triệu - Hà Nội
  • phone Gmail: nhasachtinhlien187
  • phone Điện thoại: 043 974 8417
  • phone Di động: 094 278 3333

Tìm kiếm sách

Từ khóa
Giá từ
Đến

Trên Google+

Trên Facebook

Luận tạng phật giáo Tuệ Quang tập 28

Mã sản phẩm: S0269 - 1093 Lượt xem
Luận tạng phật giáo Tuệ Quang là bộ đại tạng kinh tập 28 do Tuệ Quang Foundation phát hành.
Phiên bản sách : xuất bản lần đầu
Nhà xuất bản : Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm xuất bản : 2016
Số trang : 5000
Chia sẻ :
Đại Tạng Kinh - Luận tạng phật giáo tập 28 bao gồm 5 cuốn trên 5000 trang sách được đóng thành khối nặng trên 10kg khổ A4:

Luận tạng


Một trang sách trong bộ luận tạng

GIỚI THIỆU(1) TÓM LƯỢC VỀ NỘI DUNG TẬP 28

Tiếp theo Tập 27 (ĐTK/ĐCTT, N0 1545), Tập 28 tiếp tục giới thiệu các Luận thuộc Bộ A Tỳ Đàm, từ N0 1546 đến N0 1557, có thể xem mảng Luận này là những liên hệ từ Luận A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa (N0 1545) cùng một số Luận nơi Luận A Tỳ Đạt Ma Lục Túc (Sáu Luận mang số hiệu 1536, 1537, 1538, 1539, 1540, 1542 nơi Tập 26).

1. Luận A Tỳ Đàm Tỳ Bà Sa:

Tác giả là 500 vị A la hán, Hán dịch là hai Đại sư Phù Đà Bạt Ma (Budhavarman. Thế kỷ 5 TL) và Đạo Thái (Thế kỷ 5 TL), dịch vào khoảng 437-439 TL đời Bắc Lương (397-439), gồm 100 quyển, do binh lửa nên hiện chỉ còn 60 quyển đầu (ĐTK/ĐCTT, Tập 28, N0 1546, trang 1-414C). Đây tức là một Dị dịch (Dịch trước) của Luận A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa (N0 1545, 200 quyển) đã nói qua nơi Bài Giới Thiệu tóm lược nội dung Tập 27 ĐTK, 60 quyển còn lại này chỉ mới giải thích, quảng diễn ba Kiền Độ (Uẩn) là Tạp, Kiết và Trí, tương đương với 111 quyển (Quyển 1 – 111) nơi bản Hán dịch của Pháp sư Huyền Tráng (N0 1545, 200 quyển). Do dịch trước nên các từ ngữ, thuật ngữ Phật học được sử dụng trong Luận N0 1546 này đều theo hệ Cựu dịch. Chẳng hạn: Uẩn thì nơi Luận ấy dịch là Kiền độ. Tùy miên dịch là sử. Tâm, tâm sở pháp (Tâm, tâm số pháp). Tầm, tứ (Giác, quán). Đạo gia hạnh, đạo vô gián, đạo giải thoát (Đạo phương tiện, đạo vô ngại, đạo giải thoát). Hữu biểu, vô biểu (Hữu giáo, vô giáo). Năm uẩn, năm thủ uẩn (Năm ấm, năm thạnh ấm). Trung hữu (Trung ấm). Hai thứ vô ký: Hữu phú vô ký, vô phú vô ký (Ẩn một vô ký, bất ẩn một vô ký). Uẩn xứ giới (Ấm nhập giới). Thắng xứ, biến xứ (Trừ nhập thắng xứ, nhất thiết xứ). Sáu nhân: Nhân năng tác, nhân câu hữu, nhân đồng loại, nhân tương ưng, nhân biến hành, nhân dị thục (Nhân sở tác, nhân cộng sinh, nhân tương tợ, nhân tương ưng, nhân nhất thiết biến, nhân báo). Bốn duyên: Duyên nhân, duyên đẳng vô gián, duyên sở duyên, duyên tăng thượng (Duyên nhân, duyên thứ đệ, duyên cảnh giới, duyên oai thế). Năm quả: Quả dị thục, quả đẳng lưu, quả sĩ dụng, quả tăng thượng, quả ly hệ (Quả báo, quả y, quả công dụng, quả oai thế, quả giải thoát). Bốn tĩnh lự (Bốn thiền). Bốn niệm trụ (Bốn niệm xứ). Bốn thông hành: Khổ trì thông hành, khổ tốc thông hành, lạc trì thông hành, lạc tốc thông hành (Bốn chủng đạo: Khổ trì tuệ đạo, khổ tốc tuệ đạo, lạc trì tuệ đạo, lạc tốc tuệ đạo). Khinh an (Ỷ). Chín thứ nhận biết khắp (Chín đoạn trí). Niết bàn hữu dư y, Niết bàn vô dư y (Niết bàn hữu dư thân, Niết bàn vô dư thân). Trạch diệt, phi trạch diệt (Số diệt, phi số diệt)…
Lại cũng do dịch trước, dịch vào thời kỳ mảng từ ngữ thuật ngữ về A Tỳ Đàm chưa dồi dào, chưa chuẩn, nhiều thuật ngữ còn đang dò dẫm, hình thành, nên có nhiều đoạn nơi Luận N0 1546 văn nghĩa diễn đạt chưa rõ, khó hiểu, phải tham khảo nơi Luận N0 1545 thì mới lãnh hội được.

2. Luận Tỳ Bà Sa:

Tác giả là Tôn giả Thi Đà Bàn Ni, Hán dịch là Đại sư Tăng Già Bạt Trừng (Samghabhùti, thế kỷ 4 TL), dịch vào đời Phù Tần (351-384), gồm 14 quyển (ĐTK/ĐCTT, Tập 28, N0 1547, trang 416-523B). Luận phân làm 2 phần chính với 42 xứ: Phần 1: Thuyết A Tỳ Đàm Bát Kiền Độ, gồm 15 xứ: Xứ ba kiết. Xứ ba căn bất thiện. Xứ ba hữu lậu. Xứ bốn lưu. Xứ bốn thọ. Xứ bốn phược thọ. Xứ năm cái. Xứ năm kiết. Xứ năm hạ kiết. Xứ năm thượng kiết. Xứ năm kiến. Xứ sáu thân ái. Xứ bảy sử. Xứ chín kiết. Xứ chín mươi tám sử. Phần 2: Giải thập môn đại chương, gồm 27 xứ: Hai mươi hai căn. Mười tám giới. Mười hai nhập. Năm ấm. Năm thạnh ấm. Sáu giới. Sắc, vô sắc pháp. Pháp có thể thấy – không thể thấy. Pháp có đối – không đối. Pháp hữu lậu – vô lậu. Pháp hữu vi – vô vi. Ba đời. Thiện, bất thiện, vô ký. Pháp hệ thuộc ba cõi. Pháp học, vô học, phi học phi vô học. Pháp do kiến đoạn, do tư duy đoạn. Bốn Thánh đế. Bốn thiền. Bốn đẳng. Bốn vô sắc. Tám giải thoát. Tám trừ nhập. Mười nhất thiết nhập. Tám trí. Ba tam muội. Trung ấm. Tứ sinh. Là những tóm lược về một số đề mục tiêu biểu nơi Luận A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa.

3. Luận Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm (Sàriputràbhidharma – Sàstra):

Hán dịch là hai Đại sư Đàm Ma Da Xá (Thế kỷ 4 – 5 TL) và Đàm Ma Quật Đa (Thế kỷ 4 – 5 TL), dịch vào đời Diêu Tần (384-417), gồm 30 quyển (ĐTK/ĐCTT, tập 28, N0 1548, trang 525-719A). Luận phân làm bốn phần với 33 phẩm: Phần 1: 10 phẩm. Phần 2: 11 phẩm. Phần 3: 2 phẩm. Phần 4: 10 phẩm. Lần lượt nêu dẫn và biện giải về Nhập (Xứ), Giới, Ấm (Uẩn). Bốn Thánh đế. Căn. Bảy giác. Căn thiện, bất thiện. Đại chủng. Trí. Duyên. Niệm xứ. Bốn thiền. Phiền não. Mười nghiệp đạo bất thiện. Mười nghiệp đạo thiện… Đây có thể là tác phẩm A Tỳ Đạt Ma Tập Dị Môn Túc (N0 1536, 20 quyển, Tập 26) của Tôn giả Xá Lợi Tử, đã được các Bộ phái Độc Tử Bộ, Chánh Lượng Bộ hoằng truyền nên có sự bổ sung, sắp xếp lại.

4. Luận Tôn Bà Tu Mật Bồ Tát Sở Tập:

Tác giả là Tôn giả Tôn Bà Tu Mật. Hán dịch là Đại sư Tăng Già Bạt Trừng, dịch vào đời Phù Tần, gồm 10 quyển (ĐTK/ĐCTT, Tập 28, N0 1549, trang 721-808A). Bản Luận gồm 14 Kiền độ (Uẩn): Tụ. Tâm. Tam muội. Thiên. Tứ đại. Khế kinh. Cánh lạc. Kiết sử. Hành. Trí. Kiến. Căn. Nhất thiết hữu. Kệ. Soạn thuật theo dạng Luận A Tỳ Đạt Ma Phát Trí (N0 1544, Tập 26) và Luận Tạp A Tỳ Đàm Tâm (N0 1552, Tập 28). Về tác giả Tôn Bà Tu Mật, Phật Quang ĐTĐ (Trang 4932 Hạ) ghi là theo các Học giả cận đại thì Tôn Bà Tu Mật là Tôn giả Thế Hữu (Vasumitra), một trong bốn Đại Luận sư của Hữu Bộ, và tác phẩm này có thể do đệ tử của Tôn giả soạn tập mà thành. Hth Trí Quang, trong dịch phẩm Dị Tông Luận thì nói rõ hơn: Tôn giả Thế Hữu là tác giả các luận: A Tỳ Đạt Ma Giới Thân Túc (N0 1540, Tập 26, A Tỳ Đạt Ma Phẩm Loại Túc (N0 1542, Tập 26), Luận Tôn Bà Tu Mật Bồ Tát Sở Tập (N0 1549, Tập 28) và Luận Dị Bộ Tông Luân (N0 2031, Tập 49 – Sử Truyện Bộ). Nhưng không phải là Tôn giả Thế Hữu, người đã chỉ đạo 500 vị A la hán chú giải Luận A Tỳ Đạt Ma Phát Trí, biên tập tổng duyệt để thành Luận A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa 200 quyển, là thủ tọa của lần kết tập kinh điển thứ tư… (Như vậy là có 2 Tôn giả Thế Hữu?) (Luận Dị Bộ Tông Luân. Hth Trí Quang dịch, chú. Bản in 1995, trang 39).

5. Luận A Tỳ Đàm Tâm (Abhidharmahrdaya – Sàstra):

Tác giả là Tôn giả Pháp Thắng (Dharma – S’resthin, thế kỷ 3 TL), một Luận sư thuộc Hữu Bộ, sống vào khoảng thế kỷ 3 TL, đã căn cứ theo Luận A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa, tóm kết những điểm tiêu biểu soạn thành 250 kệ, tức là Luận A Tỳ Đàm Tâm. Luận này đã được Đại sư Tăng Già Đề Bà (Samghadeva. Thế kỷ 4 TL) Hán dịch, Đại sư Tuệ Viễn (334-416) chỉnh lý vào đời Đông Tấn (317-419) gồm 4 quyển (ĐTK/ĐCTT, Tập 28, N0 1550, trang 809-833B), phân làm 10 phẩm: Giới. Hành. nghiệp. Sử (Tùy miên). Hiền Thánh. Trí. Định. Khế kinh. Tạp. Luận.

6. Luận A Tỳ Đàm Tâm Kinh:

Do Đại sư Ưu Ba Phiến Đa (Upasànta - Thế kỷ 3 TL) soạn thuật, Đại sư Na Liên Đề Da Xá (Narendrayasas – 490 589) Hán dịch vào đời Cao Tề (550-577) gồm 6 quyển (ĐTK/ĐCTT, Tập 28, N0 1551, trang 833B-869B) và Luận Tạp A Tỳ Đàm Tâm, do Đại sư Pháp Cứu (Dharma - etràta, thuộc hệ của Tôn giả Pháp Thắng) soạn thuật, Đại sư Tăng Già Bạt Ma (Samghavarman. Thế kỷ 5 TL) Hán dịch, dịch vào đời Lưu Tống (420 478), gồm 11 quyển (ĐTK/ĐCTT, Tập 28, N0 1552, trang 869C-965C) là 2 Luận giải thích, quảng diễn Luận A Tỳ Đàm Tâm của Tôn giả Pháp Thắng.

7. Luận Nhập A Tỳ Đạt Ma:

Tác giả là Tôn giả Tắc Kiến Đà La (ĐTK/ĐCTT, Tập 28, N0 1554, 2 quyển, trang 980B-989A) và Luận Ngũ Sự Tỳ Bà Sa do Tôn giả Pháp Cứu soạn thuật (ĐTK/ĐCTT, Tập 28, N0 1555, 2 quyển, trang 989A-995B), cả hai đều do Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch, là những Luận ngắn mang tính nhập môn về A Tỳ Đàm. Luận N0 1554 lần lượt giải thích về sắc (Đại chủng và sắc được tạo), về thanh, hương, vị, xúc. Giải thích tóm lược về thọ, tưởng, hành (Tương ưng, không tương ưng), về ba căn thiện, ba căn bất thiện, về kiết, tùy miên, tùy phiền não, triền cái, về các trí … Luận N0 1555 là giải thích Phẩm Biện Về Năm Sự nơi Luận A Tỳ Đạt Ma Phẩm Loại Túc (N0 1542, Tập 26) của Tôn giả Thế Hữu (Phẩm Biện Về Năm Sự gồm các phần: Năm pháp (Sắc, tâm, tâm sở pháp, tâm bất tương ưng hành và vô vi). Bốn đại chủng. Năm căn. Năm trần. Sáu thức thân. Các tâm sở. Chín thứ kiết. Ba phược. Bảy tùy miên. Các tùy phiền não. Tám thứ tâm sở trói buộc hành uẩn. Mười thứ trí. Tám thứ nhẫn hiện quán biên. Các thứ tâm bất tương ưng hành). Luận N0 1555 cũng được Đại sư Pháp Thành (Người Tây Tạng, thế kỷ 9 TL) Hán dịch, mang tên: Luận Tát Bà Đa Tông Ngũ Sự (ĐTK/ĐCTT, Tập 28, N0 1556, 1 quyển, trang 995C-998A).

8. Luận A Tỳ Đàm Cam Lộ Vị:

Do Tôn giả Cù Sa (Diệu Âm) soạn thuật, mất tên người Hán dịch, được dịch vào đời Tào Ngụy (220-265), gồm 2 quyển (ĐTK/ĐCTT, Tập 28, N0 1553, trang 966-980B) và Kinh A Tỳ Đàm Ngũ Pháp Hành, do Đại sư An Thế Cao (Thế kỷ 2 TL) Hán dịch, dịch vào đời Hậu Hán (25-220) gồm 1 quyển (ĐTK/ĐCTT, Tập 28, N0 1557, trang 998A-1001B), là 2 Luận A Tỳ Đàm đã được Hán dịch sớm nhất, Luận A Tỳ Đàm Cam Lộ Vị được phân làm 16 phẩm ngắn, lần lượt nêu dẫn, biện giải về: Bố thí. Trì giới. Cõi. Nẻo. Bốn thức trụ. Bốn thứ ăn. Bốn loài. Nghiệp. Quả.Ấm Trì Nhập (Uẩn giới xứ). Bốn duyên. Sáu nhân. Hai mươi hai căn. Chín mươi tám sử (Tùy miên). Sáu pháp A la hán. Mười trí. Bốn thiền (Bốn tĩnh lự)… Kinh A Tỳ Đàm Ngũ Pháp Hành (Hầu hết dịch phẩm của Đại sư An Thế Cao về Kinh Luật Luận đều mang tên là Kinh) thì nêu dẫn và giải thích về năm pháp (Sắc. Tâm. Tâm sở. Tâm bất tương ưng hành. Vô vi). Năm pháp được Đại sư An Thế Cao dịch là: Sắc. Ý (Tâm). Sở niệm (Tâm sở). Biệt ly ý hành (Tâm bất tương ưng hành). Vô vi.

Nhìn chung, các Luận nơi Tập 28 Đại Tạng Kinh hầu hết đều được Hán dịch theo hệ Cựu dịch (Trừ hai Luận ngắn N0 1554, N0 1555 do Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch). Người đọc cần có những lưu ý tối thiểu về mảng từ ngữ – thuật ngữ thuộc A Tỳ Đàm theo hệ Cựu dịch đối chiếu với hệ Tân dịch (Chúng tôi đã nêu dẫn đối chiếu một số thuật ngữ tiêu biểu nơi phần giới thiệu Luận A Tỳ Đàm Tỳ Bà Sa (N0 1546). Như thế là chúng ta sẽ thấy, phần lớn mảng từ ngữ – thuật ngữ thuộc A Tỳ Đàm theo hệ Cựu dịch kia là chưa chuẩn, chưa đạt, phải đến Pháp sư Huyền Tráng (602-664) Hán dịch thì mảng từ ngữ – thuật ngữ ấy mới đạt tới chuẩn mực, ổn định. Mặt khác, chúng ta cũng thấy được phần nào những công sức, những nỗ lực của nhiều thế hệ dịch giả Hán dịch, trải qua các đời, đã dò dẫm tìm kiếm, tạo ra những danh xưng, những thuật ngữ thích hợp để chuyển dịch, khiến cho chánh pháp dễ đến gần với muôn người.

Xem qua một vài trang sách

Xin quý khách bấm vào hình ảnh thu nhỏ của trang sách muốn xem dưới đây để bật công cụ phóng to. Trên công cụ phóng to, rê chuột vào bên lề phải-lề trái để hiện các nút sang phải, sang trái. Nhấn vào các nút sang phải, sang trái để lật giở sách. Nhấn nút x để đóng

Độc giả bình luận về sách

Quý vị có thể bình luận hoặc nêu các câu hỏi đáp về sản phẩm dưới đây, chúng tôi sẽ trả lời cũng tại mục bình luận này

Số ký tự được gõ là 250

Đầu sách cùng loại