ÁNH SÁNG CỦA TUỆ (LIGHT OF WISDOM) - PA AUK TAWYA SAYADAW ÁNH SÁNG CỦA TUỆ (LIGHT OF WISDOM) - PA AUK TAWYA SAYADAW Tác Giả: Pa Auk Tawya Sayadaw
Dịch: Siêu Thiện & Bhikkhu Abhikusala
NXB: Hồng Đức
Số Trang: 441 Trang
Hình Thức: Bìa Mềm Có Tay Gập
Khổ: 14,5x20,5cm
Năm XB: 2021
Độ Dày: 2cm
ASCT SÁCH VỀ THIỀN 150.000 đ Số lượng: 1000020 Quyển
  • ÁNH SÁNG CỦA TUỆ (LIGHT OF WISDOM) - PA AUK TAWYA SAYADAW

  •  397 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: ASCT
  • Giá bán: 150.000 đ

  • Tác Giả: Pa Auk Tawya Sayadaw
    Dịch: Siêu Thiện & Bhikkhu Abhikusala
    NXB: Hồng Đức
    Số Trang: 441 Trang
    Hình Thức: Bìa Mềm Có Tay Gập
    Khổ: 14,5x20,5cm
    Năm XB: 2021
    Độ Dày: 2cm


Số lượng
ÁNH SÁNG CỦA TUỆ (LIGHT OF WISDOM) - PA AUK TAWYA SAYADAW

TRÍ TUỆ KHÔN LANH SÁNG TỢ TRĂNG
CÁC SAO ĐA SỐ CHẲNG CHI BẰNG
HIỀN NHÂN CÁC PHÁP ĐỀU NƯƠNG VỚI
GIỚI ĐỨC THÁP TÙNG BẬC TRÍ NHÂN.

__TRƯỞNG LÃO TỊNH SỰ__


 
ánh sáng của tuệ

 

LỜI NÓI ĐẦU CỦA NGƯỜI BIÊN SOẠN

Chủ ý ban đầu là chỉ biên soạn hai thời pháp đã ghi âm của Pa Auk Tawya Sayadaw thuyết ở Yangon vào tháng 5, năm 1995: một là về giới nghiệp xứ (Dhātu Kammaṭṭhāna) và một chủ đề khác là về ‘Tu Tiến Bất Tịnh’ (Asubha Bhāvanā). Tuy nhiên, do một vài tình huống sau đó việc lựa chọn được thêm vào từ những thời thuyết pháp khác đã ghi âm và được dùng trong tu viện Pa Auk. Cho nên, bây giờ việc biên soạn là 20 bài ghi âm thay vì 2 bài. Trong những cuốn băng ghi âm này một số được chuyển ngữ đầy đủ, còn những phần khác thì chỉ trích dẫn.

Những cuốn băng đã chuyển ngữ là những thời pháp theo Mahā Gopalaka Sutta (từ cuốn băng số 12-22, 24, 28, 29); và một thời thuyết về Ānāpānasati Sutta (cuốn băng số 24). Những thời thuyết đó đã chuyển ngữ một phần hay chỉ trích dẫn từ Sunita Thera Apadana (cuốn băng số 2), Hatthipāla Jataka (cuốn băng số 2), Natha Sutta (cuốn băng số 1), Ānāpānasati Sutta (cuốn băng số 2) và Assaji Sutta (cuốn băng số 2). Việc chuyển ngữ này hầu hết được thực hiện bởi Đại đức Candima, còn một số khác được thực hiện bởi Đại đức Nanagavesaka.

Phần Một là gồm những thời thuyết (Mahā Gopalaka Sutta) theo từng bước bắt đầu tu tập với thiền về bốn đại Giới (Chương 1). Chương 2 giải thích về ánh sáng xuất hiện với thiền sinh trong quá trình thiền của vị ấy. Thành tựu trong thiền Bốn Giới (dhātu), thiền sinh kế đến tiến tới thiền theo 32 phần của thân (Chương 3) và cuối cùng đến thiền kasiṇa biến xứ trắng (Chương 4). Với sự ủng hộ của thiền kasiṇa biến xứ trắng, thiền sinh phải tu tập thêm bốn thiền bảo hộ (Chương 5), cả hai là một sự rèn luyện thêm trong định samādhi và được lợi ích về ‘sức mạnh ủng hộ từ tu tập định hay sức mạnh cận y’ (upanissaya satti) khi vị ấy tu tập ‘quán hay minh sát’ (vipassanā). Kế đến, bậc tu tiến hướng đến tu tập quán (vipassanā) bằng cách bắt đầu với việc quan sát thấy biết rõ theo sắc, ‘Sắc Nghiệp Xứ’ (Rūpa Kammaṭṭhāna) (Chương 6) theo sau bằng việc quan sát theo danh, ‘Danh Nghiệp Xứ’ (Nāma Kammaṭṭhāna) (Chương 7). Sau đó, thiền sinh quan sát theo sự liên quan của nhân và quả giữa quá khứ, hiện tại và vị lai để đạt đến ‘tuệ hiển duyên’ (paccaya pariggaha ñāṇa) (Chương 8). Những chương sau nói về quán (vipassanā) từ những cuốn băng được chọn lọc (và không nằm hết trong các bài); cho nên một số chương có thể bắt đầu hay kết thúc bất ngờ, Ánh Sáng Của Tuệ.

Xen nhau, những thiền sinh sơ cơ có thể bắt đầu với Ānāpānasati, thiền theo hơi thở vào, hơi thở ra. Nếu một thiền sinh chọn bắt đầu với Ānāpānasati thì quá trình thiền sẽ tương tự như trên, ngoại trừ bắt đầu thiền là Ānāpānasati, tiến tới thiền theo 32 phần của thân và v.v…; thiền 4 giới (dhātu) được tu tập ngay trước khi quan sát theo sắc, ‘Sắc Nghiệp Xứ’ (Rūpa Kammaṭṭhāna) theo sau bằng cách tu tập quán (vipassanā) khác. Trong Phần Hai, Chương 13 mô tả làm sao một thiền sinh có thể tiến tới thiền vô sắc (Arūpa Jhāna) dựa vào Ānāpānasati là thiền lúc ban đầu. Chương 14, Từ Ānāpānasati Đến Vipassanā là chỉ trích đoạn vì những hướng dẫn cơ bản tương tự với Chương 13 trong khi tu tập quán (vipassanā) tương tự với Phần Một; trích dẫn là chính mà không được đề cập trước.


 
ánh sáng của tuệ 1


Phần biên tập này được gọi tên là ‘Light of Wisdom’ – ‘Ánh Sáng Của Tuệ’, chỉ cho yếu tố chính góp phần thành tựu trong quá trình thiền. Như Sayadaw đã đề cập trong thời thuyết pháp, ‘Chỉ khi có ánh sáng thì bậc tu tiến mới có thể thấy cảnh sắc. Tương tự, thiền sinh nào đang tu tập quán, minh sát (vipassanā) phải quan sát theo màu của những bọn sắc (rūpa kalāpa). Khi ấy, ánh sáng phải hiện diện. Nếu không có ánh sáng, bậc tu tiến không thể thấy những bọn sắc (rūpa kalāpa)…’ Cũng vậy ‘…thiền sinh nào đang tu tiến quán nghiệp xứ (vipassanā bhāvanā kammaṭṭhāna), nếu không có ánh sáng thì không thể thiền theo danh sắc (nāma rūpa) ngoại phần trong 31 cõi, nói chung…’. Về ý nghĩa của Ánh sáng, xem chương Ánh Sáng của Tuệ là chi?

LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC BIÊN TẬP NÀY:

1) Quyển sách này được chuyển ngữ theo Anh ngữ địa phương, với một số nơi nó có thể là không theo dạng ngữ pháp phổ thông. Hơn nữa, nhiều liên từ, phó từ, những câu chất vấn được giữ để tránh sự thay đổi về ý nghĩa. Chúng tôi thỉnh cầu Venerable Sayadaw thứ lỗi cho chúng tôi về bất cứ điểm sai nào trong việc chuyển ngữ và biên tập này.

2) Mỗi băng ghi âm là một giờ thuyết pháp. Tuy phạm vi chủ đề trải rộng, một số có thể không được chia chi tiết. Nó chỉ là một nét phác thảo tổng quát về việc tu tập. Trong lúc thật sự tu tập ở những mức tiến bộ, thiền sinh cần phải tham khảo những sách hướng dẫn cho thiền sinh trong Lâm viện Pa Auk.

3) Thính giả của thời nói pháp là các thiền sinh Burmese. Cho nên một số tục ngữ, ví dụ hay lời dẫn giải trong lúc nói có thể xa lạ.

4) Sự trích dẫn những số trang của Nguyên bản Pāḷi giới thiệu trong lúc thuyết pháp nói đến Tam Tạng Pāḷi (Pāḷi tipiṭaka) Burmese. Tuy nhiên, những số giới thiệu về Visuddhimagga trong bản Anh ngữ bởi Bhikkhu Ñānamoli được biểu thị trong ngoặc. Ví dụ, (Vism, XX, 98) nghĩa là Visuddhimagga Anh ngữ Chương XX, đoạn số 98.

5) Có thể có nhiều sự giải thích như làm sao tu tập liên quan đến Nguyên bản trong những thời thuyết pháp này. Tuy nhiên, nó không có nghĩa một thiền sinh phải có một sự hiểu biết thấu đáo về Nguyên bản trước khi vị ấy tu tập thiền.


 
ánh sáng của tuệ 2



Chúng Tôi Xin Cảm Ơn Những Người Sau, Nhờ Có Họ Làm Cho Việc Biên Tập Này Có Thể Thực Hiện:

- Venerable Sayadaw về những thời thuyết pháp,
- Venerable Candima và Venerable Ñānagavesaka về việc chuyển ngữ những bài giảng,
- Venerable Varañāna, Venerable Aggadhamma, Venerable Uttama và Venerable Kuṇḍadhāna là những người đã chăm chỉ sao chép những thời thuyết pháp. Việc chuyển ngữ được hoàn thành chính xác hơn nhờ sự trợ giúp từ những bản sao chép của họ.
- U Eric về việc ‘dāna’ máy ghi âm. Hầu hết những bản ghi âm được viết lại nhờ vào việc dùng máy ghi âm này.
- U Aung Kyaw Oo, U Kan Saing, U Ba, U Aung Myint (Mahn Myoo Daw Kapi, Mandalay) và tất cả những người khác đã bày tỏ lòng từ - metta bằng cách giúp qua cách này hay cách khác.

NGƯỜI BIÊN SOẠN:
Pa Auk Tawya Sinn Kyan Kyaung, Pa Auk, Mawlamyaing, Myanmar (Burma).



TRÍCH ĐOẠN:

PHẦN I - CHƯƠNG 1:  THIỀN VỀ BỐN ĐẠI GIỚI

Đức Phật dạy ‘tác ý giới’ (dhātu manasikāra) (thiền về bốn đại giới) trong kinh Đại niệm xứ (Mahā satipaṭṭhāna sutta). Bhikkhu muốn đạt đến Nibbāna phải thuần thục tu tiến niệm xứ (satipaṭṭhāna) bao gồm cả hai ‘niệm xứ hiệp thế’ (lokiya satipaṭṭhāna) và ‘niệm xứ siêu thế’ (lokuttara satipaṭṭhāna). Lời dạy này sẽ được thiền về bốn đại giới là phần của tu tập niệm xứ (satipaṭṭhāna). Trước khi tiến hành, có vài điểm tôi muốn cho bạn biết. Nói chung có 3 học (sikkhā) được tu tập để phát triển trí/tuệ tròn đủ (ñāṇa pāramī) của đệ tử (sāvaka) Đức Phật (Buddha): Giới học (sīla), định học (samādhi), tuệ học (paññā). Theo quan điểm của bảy giai đoạn thanh tịnh (thất tịnh) thì: giới học (sīla sikkhā) là giới thanh tịnh (sīla visuddhi); định học (samādhi sikkhā) là tâm thanh tịnh (citta visuddhi); tuệ học (paññā sikkhā) là từ kiến thanh tịnh (diṭṭhi visuddhi) cho đến bốn thanh tịnh (visuddhi) còn lại. Tất cả có bảy giai đoạn thanh tịnh. Bảy giai đoạn thanh tịnh và 3 học thì giống nhau. Nếu đệ tử (sāvaka) Phật muốn đạt đến Nibbāna, vị ấy phải tu tập đầy đủ 3 học (sikkhā) này. Theo nhóm ‘tám chi Thánh đạo’:

- Giới học (sīla sikkhā) là chánh ngữ (sammā vācā), chánh nghiệp (sammā kammanta) và chánh mạng (sammā ājīva): 3 chi Thánh đạo.

- Định học (samādhi sikkhā) là chánh cần (sammā vāyāma), chánh niệm (sammā sati) và chánh định (sammā samādhi): 3 chi Thánh đạo.

- Tuệ học (paññā sikkhā) là chánh tư duy (sammā saṅkappa) và chánh kiến (sammā diṭṭhi): 2 chi Thánh
đạo.

Bậc tu tiến phải tu tập cả 8 chi Thánh đạo. Tám chi này thì giống với 3 học (sikkhā). Nếu thiền sinh là một người cư sĩ, vị ấy phải nguyện thọ ít nhất 5 giới (sīla). Thiền sinh phải nguyện thọ giới từ lúc bắt đầu thiền. Có một dạng đệ tử (sāvaka) gọi là ‘người tỏ ngộ đầu đề’ (ugghaṭitaññu puggala) là hạng người có thể đạt do chỉ nghe pháp (dhamma) tóm tắt. ‘Người tỏ ngộ xiển minh’ (vipacitaññu puggala) là hạng người khác sẽ đạt sau khi nghe pháp chi tiết như kinh Chuyển pháp luân (Dhamma cakka pavattana sutta) và ‘kinh Vô ngã tướng’ (Anatta lakkhaṇa sutta). Hai hạng người này không như ‘người đáng tiếp độ’ (neyya puggala) cần phải có thời gian tu tập. Thời gian tu tập đối với ‘người tỏ ngộ đầu đề’ và ‘người tỏ ngộ xiển minh’ thì chỉ khi họ đang nghe thuyết pháp. Họ có thể đạt đạo (magga), quả (phala), Nibbāna nếu họ tu tập 3 học (sikkhā) trong thời đang nghe thuyết pháp. Về phần tu tập của ‘người đáng tiếp độ’ thì không như vậy. Họ phải tuần tự tu tập giới học (sīla sikkhā) và định học (samādhisikkhā).


 
ánh sáng của tuệ 3


Chỉ sau khi tu tập như vậy, họ phải tu tập tuệ học (paññā sikkhā). Vị ấy không phải là hạng người có thể chứng đạt chỉ bằng cách nghe thuyết pháp. Cho nên, vị ấy phải học từ người thầy tu tập ‘giới học’. Để thiết lập định (samādhi), vị ấy phải học tu tập ‘samādhi’ từ một vị thầy. Chỉ sau khi thiết lập định (samādhi), vị ấy mới có thể tu tập thêm tuệ học (paññā sikkhā). Tại sao? Về việc này, trong giai đoạn minh sát, tóm tắt có bao nhiêu loại tuệ (paññā)? Trong tuệ học, 4 loại chánh kiến (sammā diṭṭhi) đã được tu tập, đã được Đức Phật giải thích trong kinh Đại niệm xứ (Mahā satipaṭṭhāna sutta). Yaṃ kho bhikkhave dukkhe ñaṇaṃ, dukkhasamudāye ñaṇaṃ, dukkhanirodhe ñaṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā patipadāya ñaṇaṃ. Ayaṃ vuccati bhikkhave Sammādiṭṭhi – 4 loại chánh kiến (sammā diṭṭhi) là tuệ về sự thật của khổ - khổ đế (dukkha sacca); tuệ về sự thật nguyên nhân của khổ - tập đế (samudaya sacca); tuệ về sự thật của sự dứt khổ - diệt đế (nirodha sacca); và tuệ về sự thật của con đường tu tập đưa đến sự dứt khổ - đạo đế (maggasacca). Trong 3 học (sikkhā), tu tập đầy đủ về 4 chánh kiến (sammā diṭṭhi) là tuệ học (paññā sikkhā). Kế đến, khi nào 4 Thánh đế này có thể được thấu biết rõ theo tuệ học?

Chính Đức Phật thuyết về câu trả lời này trong kinh Định (samādhi sutta), phẩm uẩn (khandha vagga), Tương ưng bộ (Saṃyutta Nikāya). Samādiṃ bhikkhave bhavetha, samahito bhikkhave bhikkhu yathā Bhūta pājānati – này chư bhikkhu, tu tập phát triển định; vị nào có định thấy biết rõ chư pháp theo thực tính. Chư pháp bị thấy biết theo thực tính là chi? Đức Phật cũng dạy câu trả lời. Bậc tu tiến thấy biết theo thực tính là năm uẩn (khandha), gọi là sắc (rūpa), thọ (vedanā), tưởng (saññā), hành (saṅkhāra) và thức (viññāṇa) hoặc khổ đế (dukkha sacca). Vị ấy cũng thật thấy biết nhân của khổ đế. Vị ấy cũng thật thấy biết sự sanh của khổ đế là do sự sanh của chư pháp nhân. Vị ấy cũng thật thấy biết sự diệt của quả khổ đế là do sự diệt của chư pháp nhân. Vị ấy cũng thật thấy biết trạng thái hay tướng vô thường (anicca), khổ (dukkha), vô ngã (anatta) của cả hai nhân và quả. Vị ấy phải làm gì để thật thấy biết như vậy? Đức Phật dạy thiết lập định (samādhi), đây là câu trả lời.

Cũng trong ‘nhóm tám chi Thánh đạo’, Đức Phật dạy chánh định (sammā samādhi) là một trong những ‘chi đạo’. Đức Phật đã cẩn thận giải thích rằng chánh định (sammā samādhi) là thiền (jhāna) thứ nhất, thiền thứ hai, thiền thứ ba, thiền thứ tư trong kinh Đại niệm xứ (Mahā satipaṭṭhāna sutta). Có cách diễn giải đặc biệt (ukkaṭṭha niddesa) trong đó loại định (samādhi) cao nhất (uttama) được trình bày trong những định (samādhi) này. Mặt khác, theo cách bậc trung (majjhedipaka), nếu định sắc giới (rūpavacara samādhi) giữa được đề cập thì cả hai định dục giới (kāmavacara samādhi) thấp (là cận định – upacāra samādhi) và định vô sắc giới (arūpavacara samādhi) cao hơn cũng được bao gồm. Trong Thanh tịnh đạo quyển thứ hai, trang 222 có đề cập: Cittavisuddhi nāma saupacāra aṭṭha samāpattiyo (vism.XVII,1) – Cận định (upacāra samādhi) cùng với 4 loại định sắc giới (rūpavacara samādhi) và 4 loại định vô sắc giới (arūpavacara samādhi) gọi là 8 thiền chứng (samāpatti), được biết là tâm thanh tịnh (citta visuddhi) theo cách bảy giai đoạn thanh tịnh (visuddhi). Trong tu tiến bảy giai đoạn thanh tịnh, sau khi giới thanh tịnh (sīla visuddhi), bậc tu tiến phải cố gắng thanh tịnh tâm để hoàn thành tâm thanh tịnh (citta visuddhi).

Sau tâm thanh tịnh, bậc tu tiến có thể chuyển sang tu tập kiến thanh tịnh (diṭṭhi visuddhi). Đức Phật dạy chánh định (sammā samādhi) là một trong những ‘chi đạo’ trong ‘nhóm tám chi Thánh đạo’. Theo Đức Phật, chỉ khi ‘nhóm tám chi Thánh đạo’ được hoàn thành, bậc tu tiến có thể thấy rõ sự đạt được Nibbāna. Dù là bậc ‘căn tánh thuần quán’ (suddha vipassanā yānīka) cũng phải tu tập phát triển định của vị ấy, nhưng không phát triển đến bậc thiền định (jhāna samādhi). Định mà đang vươn đến thiền (jhāna) và là cao nhất của định dục giới (kāmavacara samādhi), được gọi là cận định (upacāra samādhi). Thiền sinh ít nhất phải tu tập phát triển ‘cận định’, nếu vị ấy không tu tập đạt đến thiền định. Có hai dạng người: người căn tánh thuần quán (suddha vipassanā yānīka puggala) và người căn tánh chỉ tịnh (samatha yānīka puggala) có ý định chuyển sang quán, minh sát (vipassanā), cố gắng đạt kiến thanh tịnh (diṭṭhi visuddhi) đầu tiên. Người căn tánh chỉ tịnh (samatha yānīka puggala) có thể là người đã đạt thiền (jhāna) của một trong 8 thiền chứng (samāpatti). Người căn tánh chỉ tịnh (samatha yānīka puggala) trước tiên nhập vào bất cứ thiền nào ngoại trừ ‘thiền phi tưởng phi phi tưởng’ (Neva sañña nā saññayatana jhāna). Kế đến, sau khi xuất khỏi thiền vị ấy quan sát theo trạng thái (lakkhaṇa), phận sự (rasa), thành tựu hay sự hiện bày (paccupaṭṭhāna) và nhân cận (padaṭṭhāna) của những chi thiền (jhānaṅga) hay chư pháp tương ưng thiền (jhāna sampayutta dhamma).

Nương vào chi mà chư danh pháp (nāmadhamma) này sinh khởi? Thiền sinh phải quan sát theo sắc pháp (rūpa dhamma), nương vào sắc này, danh pháp (nāmadhamma) sinh khởi. Sắc pháp (rūpa dhamma) đó là sắc đại minh (mahābhūta rūpa) (4 căn bản/đại giới) và sắc y sinh (upādā rūpa). Những sắc này phải được phân tích biết rõ rằng sắc đại minh và sắc y sinh là sắc pháp (rūpadhamma) và pháp thiền (jhāna dhamma) là danh pháp (nāmadhamma). Sau khi quán hay quan sát theo như vậy, ‘pháp hành hỗn hợp’ (pakiṇṇaka saṅkhāra) tức là danh pháp (nāmadhamma) và sắc pháp (rūpadhamma) còn lại sẽ được quan sát chỉ rõ. Phương pháp này dành cho người căn tánh chỉ tịnh (samatha yānīka puggala) muốn quan sát theo danh pháp (nāmadhamma) trước. Nhưng người căn tánh chỉ tịnh (samatha yānīka puggala) có thể không muốn bắt đầu quan sát theo danh pháp (nāmadhamma) mà có thể muốn bắt đầu quan sát theo sắc pháp (rūpadhamma) trước. Trong trường hợp đó, đối với cả hai người căn tánh chỉ tịnh (samatha yānīka puggala) muốn bắt đầu quan sát sắc pháp (rūpadhamma) trước và người căn tánh thuần quán (suddha vipassanā yānīka puggala) không muốn tu tập thiền định mà muốn đi thẳng vào quán (vipassanā). Vậy, phương pháp thiền nghiệp xứ (kammaṭṭhāna) nào họ cần phải tu tập?

Câu trả lời có thể được tìm thấy trong Visuddhimagga trang 222, đoạn 664: Suddha Vipassanā yānīko pana ayameva vā samatha yānīko catudhātu vavaṭṭhāne vuttānaṃ tesaṃ tesaṃ dhātu pariggahamukhānaṃ aññatara mukhavasena saṅkhepato vā vitthārato và catasso dhātuyo parigganhāti (Vism. XVIII, 5) – cả hai, người căn tánh chỉ tịnh (samatha yānīka puggala) mong muốn bắt đầu quan sát sắc pháp (rūpa dhamma) trước để chuyển sang kiến thanh tịnh (diṭṭhi visuddhi), và người căn tánh thuần quán (suddha vipassanā yānīka puggala) phải tu tập giới nghiệp xứ (dhātu kammaṭṭhāna), thiền về bốn đại giới. Giới nghiệp xứ (dhātu kammaṭṭhāna) phương pháp tóm tắt và chi tiết được đề cập trong phần ‘xác định bốn giới’ (catu dhātu vavatthāna) của Visuddhimagga. Trong phương pháp tóm tắt có hai cách được đề cập, trong khi phương pháp chi tiết có 17 cách được đề cập. Bậc tu tiến có thể chọn bất cứ một trong những cách để tu tập.

Catasso dhātuyo parigganhāti – bắt đầu bằng cách quan sát theo bốn đại giới. Tại sao? Lúc chuyển sang kiến thanh tịnh (diṭṭhi visuddhi), vị ấy có thể bắt đầu quan sát theo danh nghiệp xứ (nāma kammaṭṭhāna) hoặc sắc nghiệp xứ (rūpa kammaṭṭhāna). Người căn tánh thuần quán (suddha vipassanā yānīka puggala) phải bắt đầu quan sát theo sắc nghiệp xứ (rūpa kammaṭṭhāna). Người căn tánh chỉ tịnh (samatha yānīka puggala) có thể bắt đầu quan sát theo danh nghiệp xứ (nāma kammaṭṭhāna) do mãnh lực thiền định (jhāna samādhi) của vị ấy. Nhưng nếu vị ấy muốn bắt đầu quan sát theo sắc nghiệp xứ (rūpa kammaṭṭhāna), thì vẫn có thể. Do đó cả hai, người căn tánh chỉ tịnh (samatha yānīka puggala) và người căn tánh thuần quán (suddha vipassanā yānīka puggala) muốn bắt đầu quan sát theo sắc nghiệp xứ (rūpa kammaṭṭhāna) phải tu tập thiền về bốn đại giới (dhātu). Trong giai đoạn ‘chỉ tịnh’ (samatha), để tu tập phát triển định có 40 nghiệp xứ (kammaṭṭhāna) (40 cách thiền). Nhưng trong tu tập quán (vipassanā) chỉ có 2 nghiệp xứ (kammaṭṭhāna), đó là sắc nghiệp xứ (rūpa kammaṭṭhāna) và danh nghiệp xứ (nāma kammaṭṭhāna).
……………………………..



 
ánh sáng của tuệ 4


MỤC LỤC

PHẦN I ------------------------------------------------------------------11
- CHƯƠNG 1 - THIỀN VỀ BỐN ĐẠI GIỚI-------------------------11
- CHƯƠNG 2 - ÁNH SÁNG CỦA TUỆ LÀ CHI? ------------------42
- CHƯƠNG 3 - THIỀN VỀ 32 PHẦN CỦA THÂN ----------------54
- CHƯƠNG 4 - CHUYỂN SANG THIỀN KASIṆA BIẾN XỨ
TRẮNG------------------------------------------------------------------66
Thiền là chi? ---------------------------------------------------------- 71
Rơi Vào Hữu Phần (Bhavaṅga) ------------------------------------- 75
- CHƯƠNG 5 - BỐN THIỀN BẢO HỘ---------------------------------81
1) Mettā Bhāvanā – Tu Tiến Thiền Lòng Từ---------------------- 81
2) Buddhānussati – Niệm Theo Ân Đức Phật--------------------- 94
3) Asubha Kammaṭṭhāna (Bất Tịnh Nghiệp Xứ) – Thiền về Sự Ghê Tởm Về Tử
Thi--------------------------------------------------------------------------- 96
4) Maranānussati – Niệm Theo Sự Chết --------------------------- 99
- CHƯƠNG 6 - CHUYỂN SANG QUÁN, MINH SÁT
(VIPASSANĀ) THẤY BIẾT RÕ SẮC PHÁP (RŪPA
DHAMMA)----------------------------------------------------------------- 102
Lý Thuyết Giải Thích Về Phương Pháp ------------------------------106
HƯỚNG DẪN TU TẬP ----------------------------------------------------119
Thấy Biết Rõ Theo sắc do nghiệp trợ sanh (Kammaja Rūpa)--- 119
Thấy Biết Rõ Theo sắc do tâm trợ sanh (Cittaja Rūpa) -----------129
Thấy Biết Rõ Theo sắc do quí tiết trợ sanh (Utuja Rūpa)-------- 132
Quan Sát Theo Sắc Do Vật Thực Trợ Sanh (Āhāraja Rūpa)------ 134
Sự Sinh Khởi Của Hai Nhánh Bọn Sắc (Rūpa kalāpa)-------------- 136
- CHƯƠNG 7 - THẤY BIẾT RÕ DANH PHÁP (NĀMA
DHAMMA)------------------------------------------------------------------- 142
Kích Thước Của bọn sắc (Rūpa Kalāpa) ------------------------------ 198
- CHƯƠNG 8 - THẤY BIẾT RÕ DUYÊN TRỢ --------------------------- 201
Thấy Biết Rõ Theo Danh Sắc Của Kiếp Quá Khứ -------------------- 216
Gieo Nhân Thiện – ‘Minh’ (Vijja), ‘Điều Khiển Hành Vi’ (Cāraṇa) 229
Quan Sát Theo Kiếp Sống Vị Lai Của Vị Ấy -----------------------------230
Quan Sát Khuynh Hướng Là Phần Của Phiền Não Luân (Kilesa Vaṭṭa) 235
- CHƯƠNG 9 - VỀ QUÁN, MINH SÁT (VIPASSANĀ): PHỔ
THÔNG TUỆ (SAMMASANA ÑĀṆA)-------------------------------------- 281
- CHƯƠNG 10 - NÓI VỀ SANH DIỆT/ TIẾN THOÁI TUỆ
(UDAYABBAYA ÑĀṆA)------------------------------------------------------- 331
- CHƯƠNG 11 - TỪ TIẾN THOÁI TUỆ (UDAYABBAYA
ÑĀṆA) ĐẾN ĐẠO TUỆ (MAGGA ÑĀṆA)--------------------------------- 360
10 Tùy Phiền Não Quán (Upakkilesavipassanā) ---------------------- 360
- CHƯƠNG 12 - ĐẠT ĐẾN ĐẠO VÀ QUẢ TUỆ (MAGGA &
PHALA ÑĀṆA SAMĀPATTI) ------------------------------------------------ 385
PHẦN II ------------------------------------------------------------------------- 399
- CHƯƠNG 13 - TỪ NHẬP TỨC XUẤT TỨC NIỆM
(ĀNĀPĀNASATI) ĐẾN THIỀN VÔ SẮC (ARŪPA JHĀNA)
------------------------------------------------------------------------------------- 399
Hướng Dẫn Trước Khi Tu Tập ---------------------------------------------- 399
Hướng Dẫn Tu Tập ------------------------------------------------------------ 402
Chuyển Sang Thiền Biến Xứ (kasiṇa)-------------------------------------- 414
1) Kasiṇa Biến Xứ Trắng ----------------------------------------------------- 415
2) Kasiṇa Biến Xứ Nâu-------------------------------------------------------- 417
3) Kasiṇa Biến Xứ Vàng -------------------------------------------------------417
4) Kasiṇa Biến Xứ Đỏ --------------------------------------------------------- 418
5) Kasiṇa Biến Xứ Đất -------------------------------------------------------- 418
6) Kasiṇa Biến Xứ Nước ------------------------------------------------------ 419
7) Kasiṇa Biến Xứ Lửa ---------------------------------------------------------420
8) Kasiṇa Biến Xứ Gió ----------------------------------------------------------420
9) Kasiṇa Biến Xứ Ánh Sáng---------------------------------------------------421
10) Kasiṇa Biến Xứ Hư Không ------------------------------------------------421
Thiền Vô Sắc (Arūpa Jhāna) ---------------------------------------------------421
- CHƯƠNG 14 - TỪ NHẬP TỨC XUẤT TỨC NIỆM
(ĀNĀPĀNASATI) ĐẾN ‘QUÁN/ MINH SÁT’ (VIPASSANĀ)
--------------------------------------------------------------------------------------- 426
- CHƯƠNG 15 - TÁN DƯƠNG NHẬP TỨC XUẤT TỨC NIỆM
(ĀNĀPĀNASATI) ----------------------------------------------------------------- 432
- CHƯƠNG 16 - VẤN - ĐÁP---------------------------------------------------- 437

 
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây