DUY THỨC HỌC - HT THÍCH THIỆN HOA DUY THỨC HỌC - HT THÍCH THIỆN HOA Dịch Giả: HT Thích Thiện Hoa
NXB: Tôn Giáo
Số Trang: 342 Trang
Hình Thức: Bìa Mềm 
Khổ: 14,5x20,5cm
Năm XB: 2016
Độ Dày: 1,5cm
DTH1 SÁCH VỀ THIỀN 30.000 đ Số lượng: 1000020 Quyển
  • DUY THỨC HỌC - HT THÍCH THIỆN HOA

  •  419 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: DTH1
  • Giá bán: 30.000 đ

  • Dịch Giả: HT Thích Thiện Hoa
    NXB: Tôn Giáo
    Số Trang: 342 Trang
    Hình Thức: Bìa Mềm 
    Khổ: 14,5x20,5cm
    Năm XB: 2016
    Độ Dày: 1,5cm


Số lượng
LỜI CỦA DỊCH GIẢ

Phật ra đời độ sanh gần nửa thế kỷ, thuyết pháp trên 300 hội, nói ra 84.000 pháp môn, nào quyền, thiệt, đốn, tiệm, các phương tiện đều dạy bày; chung qui lại chỉ có hai phần: pháp tướng và pháp tánh. Duy thức tôn là một trong Pháp tướng. Lý Duy thức, trong các kinh điển, Phật đã nói nhiều. Về sau các vị Bồ Tát trích lục lại, sắp xếp theo hệ thống, có thứ lớp, biên thành sách, lập thành tôn, gọi là pháp tướng tôn hay Duy thức tôn.

 
duy thức học


Như vào khoảng 900 năm, sau khi Phật diệt độ, có Ngài Bồ Tát Thiên thân, y theo các kinh, viết qua quyển "Duy thức tam thập tụng" v.v...Đến sau có 10 vị Đại luận sư ra đời, tuần tự giải thích quyển "Duy thức tam thập tụng" lập thành mười bộ đại luận. Trong số ấy, bộ sớ giải của Ngài Hộ pháp là có phần hoàn bị hơn hết.

Đến đời Đường, ở Trung Hoa có Ngài Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang, trí tuệ vô song, thông minh xuất chúng, phát tâm qua Ấn độ, nghiên cứu Phật pháp 18 năm trường (xem bộ Huyền Trang của Võ Đình Cường), Ngài rất thông về Duy thức tôn. Sau khi trở về nước, Ngài phiên dịch rất nhiều kinh sách, mà quyển "Duy thứ tam thập tụng" của Btát Thiên Thân là một. Ngài lại còn lượm lặt những tinh hoa sớ giải trong 10 bộ luận của 10 vị Đại luận sư, rồi phiên dịch ra chữ Trung Hoa, làm thành một bộ mười quyển, mệnh danh là "Thành Duy thức luận". Đệ tử lớn của Ngài Huyền Trang là Khuy Cơ, trải qua thời gian mấy mươi năm hầu Thầy, được đắc truyền về môn Duy thức học này, nên sớ giải lại bộ "Thành Duy thức luận" đến 60 quyển, đặt tên là "Thành Duy thức luận thuật ký".

Đến sau, Ngài Huyền Trang muốn cho người học dễ nhớ, nên làm 12 bài tụng (mỗi bài bốn câu) tóm tắt nghĩa lý rộng rãi u huyền của Duy thức, đặt tên là "Bát Thức Qui Củ Tụng". Đành rằng sách vở Duy thức rất nhiều, vì các vị Bồ Tát nhắm nhiều khía cạnh của Duy thức mà phân tích giảng giải, song có ba bổn, từ xưa đến nay được xem là chánh tông, là căn bản của Duy thức học:

1. Đại thừa bá pháp minh môn luận: Nói về pháp số (danh từ chuyên môn) của Duy thức.
2. Duy thức tam thập tụng: Nói về nghĩa chánh của Duy thức.
3. Bát thức qui củ tụng: Tóm tắt nghĩa lý bao la của Duy thức.

Về sau các học giả hoặc sang tác hoặc giải thích sách vở Duy thức, đều căn cứ vào ba bổn luận ấy, khai thác nhiều khía cạnh, rồi tán rộng ra hoặc làm cho nổi bật những điểm quan trọng. Bổn "Đại thừa bá pháp minh môn luận" và bổn "Bát thức qui củ tụng" Tôi đã dịch và giải rồi, hiệp chung lại dưới nhan đề là "Duy thức nhập môn". Còn bổn "Duy thức tam thập tụng" này, nay mới dịch xong. Nội dung của luận này, do Ngài Bồ Tát Thiên Thân dùng 24 bài tụng đầu, nói về Duy thức tướng, bài tụng thứ 25 nói về Duy thức tánh, 5 bài tụng sau là nói về Duy thức vị; hay nói một cách khác là: Duy thức cảnh, Duy thức hành và Duy thức quả (xem 2 cái biểu ở cuối quyển này). Cái khó khăn trong việc nghiên cứu Duy thức có nhiều nguyên nhân:

1. Rất nhiều danh từ chuyên môn mới lạ mà học giả chưa quen nghe.
2. Phân tích các hành tướng về tâm lý cũng như vật chất rất nhiều và quá tỉ mỉ, làm cho học giả khó nhớ.
3. Sách vở Duy thức quá nhiều, học giả không biết nên xem quyển nào trước, quyển nào sau.
4. Những sách ấy phần nhiều là sách chữ Hán, văn lại quá cổ nên người nay khó học.
5. Phải có tu quán mới hiểu rõ được Duy thức. Vì những nguyên nhân trên, học giả phần đông đành bỏ lỡ một môn triết học thâm thúy, cao siêu là Duy thức học!

Duy thức là một môn học khó vô cùng. Văn chương đã khó, danh từ lại nhiều và hành tướng Tâm vương, Tâm sở cũng rất phiền phức. Tôi đã ba năm nghiên cứu bộ Thành Duy thức luận, mà như người đi vào rừng rậm, không tìm được lối ra.


 
duy thức học 1


Quí vị muốn nghiên cứu về Duy thức học, trước nhứt nên đọc kỹ 3 bổn luận này. Cũng như người học nghề võ, trước phải học đường thảo, rồi sau mới phân miếng. Huyền diệu thay! Cũng ba bổn luận này, mà từ xưa đến nay, không biết bao nhiêu vị Đại luận sư và các nhà học giả, sớ giải mãi cũng không cùng. Chúng ta chớ nên có ý nghĩ nông cạn: học sơ lược chánh văn hay đọc lời sớ giải thô sơ của ba bổn luận này, rồi cho là đầy đủ. Phải học mãi, coi nhiều, chúng ta sẽ thấy rừng hoa Duy thức, thật không biết bao nhiêu màu sắc tốt tươi xinh đẹp.
Sa môn THÍCH THIỆN HOA


TRÍCH ĐOẠN:

BÀI THỨ NHỨT: LUẬN ĐẠI THỪA TRĂM PHÁP (Trích yếu Bài này nên học thuộc lòng)
PHẦN THỨ NHỨT: CHÁNH VĂN


Hỏi: Như lời Phật dạy: "Tất cả các pháp đều vô ngã". Vậy cái gì là "Tất cả pháp" và sao gọi là "vô ngã"?
Đáp: Tất cả các pháp tuy nhiều, nhưng tóm lại có 100 pháp, chia làm 5 loại:

I. Tâm pháp (Có 8 món)
II. Tâm sở hữu pháp (Có 51 món)
III. Sắc pháp (Có 11 món)
IV. Tâm bát tương ưng hành pháp (Có 24 món)
V. Vô vi pháp (Có 6 món)


LƯỢC GIẢI

I. TÂM PHÁP HOẶC GỌI LÀ TÂM VƯƠNG CÓ 8 MÓN

1. Nhãn thức (cái biết của mắt)
2. Nhĩ thức (cái biết của tai)
3. Tỹ thức (cái biết của mũi)
4. Thiệt thức (cái biết của lưỡi)
5. Thân thức (cái biết của thân)
6. Ý thức (cái biết của ý)
7. Mạt na thức (Thức thứ 7)
8. A lại da thức (Thức thứ 8)


II. TÂM SỞ HỮU PHÁP, GỌI TẮT LÀ TÂM SỞ, CÓ 51 MÓN, PHÂN LÀM 6 LOẠI:

1. Biến thành, có năm: Xúc, Tác ý, Thọ, Tưởng, Tư.
2. Biệt cảnh, có năm: Dục, Thắng giải, Niệm, Định, Huệ.
3. Thiện, có mười một: Tín, Tàm, Quí, Vô tham, Vô sân, Vô si, Tinh tấn, Khinh an, Bất phóng dật, Hành xả, Bất hại.
4. Căn bản phiền não, có sáu: Tham, Sân, Si, Mạn, nghi, Ác kiến.
Ác kiến lại chia làm năm: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, KIến thủ, Giới cấm thủ.
5. Tuỳ phiền não, có 20 món, chia làm ba loại:

a) Tiểu tuỳ, có 10: Phẫn, Hận, Phú, Não, Tật, Xan, Cuồng, Siễm, Hại, Kiêu.
b) Trung tuỳ, có 2: Vô tàm, Vô quí.
c) Đại tuỳ, có 8: Trạo cử, Hôn trần, Bất tín, Giải đãi, Phóng dật, Thất niệm, Tán loạn, Bất chánh tri.

6. Bất định, có bốn món: Hối, Miên, Tầm, Tư.


III. SẮC PHÁP, CÓ 11 MÓN:

Năm căn: Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỹ căn, Thiệt căn và Thân căn.
Sáu trần: Sắc trần, Thinh trần, Hương trần, Vị trần, Xúc trần và Pháp trần.


 
duy thức học 2


IV. TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH PHÁP, GỌI TẮT LÀ "BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH", CÓ 24 MÓN:

Đắc, Mạng căn, Chúng đồng phận, Di sanh tánh, Vô tưởng định, Diệt tận định, Vô tưởng báo, Danh thần, Cú thân, Văn thân, Sanh, Trụ, Lão, Vô thường, Lưu chuyển, Định dị Tương ưng. Thế tốc, Thứ đệ, Thời, Phương, Số, Hoà hiệp tánh, Bất hoà hiệp tánh.


V. VÔ VI PHÁP, CÓ 6 MÓN:

Hư không vô vi, Trạch diệt vô vi, Phi trạch diệt vô vi, Bất động diệt vô vi, Tưởng thọ diệt vô vi, Chơn như vô vi.


NGUYÊN VĂN CHỮ HÁN:

Nhứt thế tối thắng cố
Dữ thử tương ưng cố
Nhị sở hiện ảnh cố
Tam vị sai biệt cố
Tứ sở hiển thị cố
Như thị tứ đệ.


DỊCH NGHĨA:

Thứ lớp như vầy: Tâm vương hơn tất cả. Tâm vương cùng Tâm sở hợp nhau. Do hai món: Tâm vương và Tâm sở, mà hiện ra ảnh tượng là "sắc pháp". Do ba món: Tâm vương, Tâm sở và Sắc pháp, mà thành ra 24 món sai khác là "Bất tương ưng hành". Do bốn món: Tâm vương, Tâm sở, Bất tương ưng hành, đều thuộc về Pháp Hữu vi, nên hiện ra 6 Pháp Vô vi.


 
duy thức học 3


LƯỢC GIẢI

Tóm lại, ngoại nhơn hỏi: "Cái gì là tất cả pháp? Đại ý, Luận chủ trả lời: Các pháp tuy nhiều, nhưng ước lược chỉ có một trăm pháp, phân làm 5 loại:

1. Tâm vương có 8;
2. Tâm sở có 5;
3. Sắc pháp có 11;
4. Bất tương ưng hành có 24;
5. Vô vi pháp có
6. Trong 5 loại, lại chia làm hai:
Bốn loại trên thuộc về Pháp Hữu vi, loại thứ 5 thuộc về pháp Vô vi.

Trên nguyên văn nói "tất cả pháp" tức là pháp Hữu vi và vô vi vậy. Từ trước đến đây Luận chủ đã trả lời xong câu hỏi thứ nhứt: "Cái gì là tất cả pháp".  Vì muốn cho học giả dễ nhớ, nên Cổ nhơn có làm bài kệ bốn câu, tóm lại 100 pháp như vầy:

Sắc pháp thập nhứt, tâm pháp bát,
Ngũ thập nhứt cá tâm sở pháp
Nhị thập tứ chủng bất tương ưng,
Lục cá Vô vi thành bá pháp.


DỊCH NGHĨA:

Sắc pháp mười một, Tâm pháp tám,
Năm mươi mốt món Tâm sở pháp,
Hai mươi mốt món Bất tương ưng,
Sáu món Vô vi thành trăm pháp ……


 
duy thức học 4


MỤC LỤC

DUY THỨC HỌC NHẬP MÔN

LỜI NÓI ĐẦU


BÀI 1. LUẬN ĐẠI THỪA TRĂM PHÁP
BÀI 2. LUẬN ĐẠI THỪA TRĂM PHÁP (TIẾP THEO)
BÀI 3. TÂM VƯƠNG
BÀI 4. Ý THỨC
BÀI 5. MẠT NA THỨC
BÀI 6. A LẠI DA THỨC
BÀI 7. TÂM SỞ
BÀI 8. TUỲ PHIỀN NÃO
BÀI 9. BẤT ĐỊNH TÂM SỞ
BÀI 10. TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH PHÁP


DUY THỨC HỌC TẬP I

BÀI 1. DUY THỨC PHƯƠNG TIỆN ĐÀM
BÀI 2. THÀNH LẬP TÁM THỨC
BÀI 3. NÓI LƯỢC CÁC TÂM SỞ
BÀI 4. KINH NGHIỆM DUY THỨC
BÀI 5. ĐEM VIỆC CHIÊM BAO ĐỂ XÉT NGHIỆM LÝ DUY THỨC
BÀI 6. LƯỢC GIẢI LỜI VẤN NẠN CỦA NGOẠI NHÂN
BÀI 7. KẾT LUẬN


DUY THỨC HỌC TẬP II

BÀI 1. NÓI VỀ DUY THỨC VÀ THIỀN TÔN
BÀI 2. NÓI VỀ YẾU CHỈ CỦA DUY THỨC
BÀI 3. NÓI VỀ CHƠN VỌNG VÀ SANH DIỆT
BÀI 4. NÓI VỀ TƯỚNG CỦA THỨC CHIA VÀ HIỆP
BÀI 5. TÂM VƯƠNG VÀ TÂM SỞ TƯƠNG ƯNG
BÀI 6. GIẢI THÍCH 4 PHẦN
BÀI 7. NÓI VỀ CHỦNG TÁNH VÀ HUÂN TẬP


DUY THỨC HỌC TẬP III

BÀI 8. NÓI VỀ 10 DUYÊN, 4 NHÂN VÀ 5 QUẢ
BÀI 9. NÓI VỀ 3 LƯỢNG VÀ 3 CẢNH
BÀI 10. NÓI VỀ TƯỚNG TRẠNG CỦA THỨC BIẾN
BÀI 11. NÓI VỀ TƯỚNG “SỞ BIẾN” CỦA CÁC THỨC
BÀI 12. NÓI VỀ 2 “ĐẾ” VÀ 3 “TÁNH”
BÀI 13. DẪN SÁCH THẾ TỤC ĐỂ SO SÁNH


DUY THỨC HỌC TẬP IV

LUẬN A ĐÀ NA THỨC

DUY THỨC HỌC TẬP V

DUY THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI

 
thông tin cuối bài viết
thông tin new 2
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây