GƯƠNG NHÂN QUẢ - TRẦN NGUYÊN CHẤN GƯƠNG NHÂN QUẢ - TRẦN NGUYÊN CHẤN Tác Giả: Trần Nguyên Chấn
Nhà Xuất Bản: Tôn Giáo
Số Trang: 474 Trang
Hình Thức: Bìa Mềm
Khổ: 14x20cm
Năm Xuất Bản: 2020 (tái bản)
Độ Dày: 2cm
GNQ1 SÁCH NHÂN QUẢ BÁO ỨNG 70.000 đ Số lượng: 130 Quyển
  • GƯƠNG NHÂN QUẢ - TRẦN NGUYÊN CHẤN

  •  737 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: GNQ1
  • Giá bán: 70.000 đ

  • Tác Giả: Trần Nguyên Chấn
    Nhà Xuất Bản: Tôn Giáo
    Số Trang: 474 Trang
    Hình Thức: Bìa Mềm
    Khổ: 14x20cm
    Năm Xuất Bản: 2020 (tái bản)
    Độ Dày: 2cm


Số lượng
Tiểu Tựa:
Hai chữ “Nhơn Quả” là một cái gương rất lớn, để chiếu ảnh thiện ác, treo giữa ba đời, nào chư Phật và Bồ Tát, nào thế giới và chúng sanh, cũng không thể giấu hình ẩn dạng ra ngoài được; vì gồm có công phu với hiệu nghiệm hai nghĩa, có tội phước ba đời, và đủ Thế gian với Xuất thế gian hai pháp. Khi ta bắt tay vào làm việc gì mà đem cả  tâm niệm và công lực ra để làm việc ấy, gọi là “Nhơn”. Những việc gì ta đã làm mà đến nay ta thấy thành tựu được, gọi là: “Quả”. “Nhơn Quả” có ba đời:
  1. Đời quá khứ, là đời đã qua rồi, như đời xưa, hay là đời trước.
  2. Đời hiện tại, là đời hiện thế, như đời ta đây.
  3. Đời vị lai, là đời chưa đến, như đời sau.

Trong sách Nhơn Quả Lục nói: “muốn biết sự tạo nhơn của ta đời trước ra sao thì phải coi sự hưởng thọ của ta đời nay mới rõ. Còn muốn biết kết quả của ta đời sau thế nào, thì phải coi sự hành động của ta đời nay mới hiểu”.

Thí như đời nay ta được hưởng sang giàu, thì biết rằng đời trước ta đã làm lành, nên được phước báo. Còn đời nay ta phải chịu cực khổ, thì biết rằng đời trước ta đã làm dữ, nên mắc tội báo. Xưa nay hễ trồng dưa thì được dưa, trồng đậu thì được đậu, chớ chẳng khi nào cây ngọt mà sanh trái đắng, khuôn tròn mà đúc ra hình vuông bao giờ. Trong tạp chí “Từ Bi Âm” đã dựa theo Tục Tạng Kinh trích diễn nhiều bài thuộc về “Gương Nhân Quả”, nay tôi rút ra in lại thành tập để các bạn đồng tu tiện tham khảo.
Trần Nguyên Chấn



 
gương nhân quả



Trích “Gương Quả Báo – Phụ Tình Mang Báo”:
Xưa có một chàng thư sinh tên là Phùng Thuyên, quê ở quận Tích Giang, vốn người thông minh trí huệ, học rộng hiểu nhiều, tuổi vừa đôi mươi đã nổi danh nơi Hàng Uyển. Năm Ất Mão, đời vua Sùng Trinh, chàng dự thi và đỗ giải Nguyên, tên treo bảng vàng, trong giới Nho sĩ thời ấy người người đều kính trọng.

Năm sau, chàng lên Yên Kinh dự kỳ thi hội. Đến kinh đô, chàng tìm nhà tạm nghỉ, rồi cùng các bạn đồng học đàm luận văn chương. Cạnh nhà trọ có một vườn hoa rất đẹp, cội liễu chồi mai, vun trồng xanh tốt, chậu hoa khóm trúc cũng được chăm nom chu đáo. Mỗi ngày đều thấy một ông lão ra vào thưởng ngoạn vườn hoa, uốn sửa nhành cây dưới hòn non bộ.

Một hôm, chàng chợt thấy hai người thiếu nữ dạo chơi dưới gốc cây đào. Hai nàng vui vẻ chuyện trò, cười đùa hồn nhiên tựa đóa hoa hải đường và nhành hoa thược dược đang khoe sắc trong vừa xuân. Khi ấy, chàng mê mẩn cả tâm thần, bao nhiêu tư tưởng đều tập trung dưới nhành hoa. Còn hai nàng vừa chợt thấy chàng thì e lệ, cười khúc khích, rồi chay tuốt vào nhà.

Từ đó về sau, chàng cả ngày tơ tưởng, nhớ nhung đến dáng hình yêu kiều của hai nàng “song hồ nửa khép cánh mây, tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông”. Ông không có con trai nối dõi, chỉ sinh được hai cô con gái, cô chị tên là Quỳnh Hương, cô em tên là Thoại Ngọc. Hai chị em chỉ hơn kém nhau một tuổi, đều đang tuổi cặp kê, nhan sắc in nhau mà thiên tư cũng chẳng khác mấy. Hai nàng cũng thông được ít nhiều chữ nghĩa.

Nơi chốn đô thành không thiếu các bậc vương tôn công tử, dập dìu anh yến, nhưng ông chưa hứa nhận lời ai, vì ý ông muốn kén một chàng rể trong hàng quỳnh uyển. Vừa khoa hội đó, ông nghe tiếng chàng Phùng Thuyên là danh sĩ ở Tích Giang, tuổi trẻ tài cao, nhiều người kính nể, nên đã thầm mộ danh chàng. Khi hay chàng đến ở tạm gần bên nhà, ông bèn qua mời chàng tới chơi, lời thi tặng, khúc tao ngâm, khiến cho ông càng thêm yêu mến, mà chàng cũng tiện dịp qua lại, liếc liễu dòm hoa.

Thấy vậy, ông mới nghĩ rằng: “Tài văn chương như chàng vào hội khoa này, tài chi không chiếm được giáp bảng, đường mây nhẹ bước, cung quế vinh tay, ngõ hạnh hoa chào, dặm phần hương ngát. Chừng đó cụ nọ sắp đưa con, quan kia hòng gả cháu, nhành bông hàng uyển, dễ ai không tìm chút thơm lây. Chi bằng đem hai đứa con gái của mình mà gả phứt cho chàng”.



 
gương nhân quả 1



Nghĩ vậy, ông bèn bàn với vợ: “nhà ta sinh có hai gái, tuổi đã lớn rồi, lâu nay nhiều người rắp ranh mà chưa định gả cho ai là muốn cho hai trẻ sau này vừa duyên phải lứa, đáng phận liễu bồ, và cảnh già của mình cũng có chỗ nương tựa. Nay có thầy Cử, họ Phùng dự hội khoa này, xem có nhiều hy vọng; vậy ta nên đem hai trẻ mà gả cho chàng, để chị em nó cùng nhau nương náu, nhà ta cũng được tiếng với người nữa”.

Còn chàng Phùng Thuyên thường vãng lai, thấy ông có lòng yêu mến, nên rất vui mừng, bèn cậy người đến đó xem, rồi tỏ thiệt sự tình, ông bà liền nhận lời cho chàng làm lễ thành thân trước khi vào hội khoa thi. Sau khi dọn hành lý về nhà ông ở được ít lâu, vì suốt ngày kề bên là hai mỹ nữ yêu kiểu, tâm trí buông lơi, hưởng lạc trần thế, bao chữ nghĩa dần phai mờ, đến khi kỳ thi đã gần kề. Chàng tới trường dự thi, nhưng đến ngày treo bảng yết danh, chàng lại bị hỏng trường hội. Than ôi! Ba tầng cửa võ, một hội rồng mây, chàng lấy làm thất chí, bèn lo thu xếp hành trang mà từ giã ông bà xin đem hai người vợ về quê quán.

Dọc đường đi, chàng thường sinh uất ức, tự nghĩ khoa này chắc đình nguyên giáp bảng, như nhổ cái râu cằm, mà nay sao chí không thành, danh không toại, thì lấy làm buồn bã, rồi đâm ra chè chén say sưa suốt ngày. Hai người vợ thấy vậy thường lựa lời khuyên can mà chẳng màng đến; nhiều khi vào nơi lữ quán, thấy người ta cờ bạc, chàng cũng ngồi lại chơi bời, làm cho lần hồi hao tổn bạc tiền, khi đến Dương Châu thì tiền đã sạch trơn.

Quang cảnh thành Dương Châu náo nhiệt, phố xá thênh thang, ghe thuyền chật bãi, cung đàn tiếng nhạc thâu đêm suốt sáng. Khi Phùng Thuyên đến đó, trong người đã hết tiền bạc, lại muốn tiêu xài rộng rãi, nên nghĩ vẩn nghĩ vơ, tơ tưởng đến những điều sai trái. Chàng bèn tự nghĩ: “đường về quê cũ còn muôn dặm xa xôi, hành lý tiêu nhiên, biết lấy chi làm lộ phí, lại cưu mang hai người tiểu thiếp thêm bận bên mình. Xưa kia tưởng công danh thành đạt, thì vợ nọ hầu kia cũng đáng, dè đâu đến nông nỗi này, càng bận bịu chừng nào càng thêm khổ chừng nấy. Thành Dương Châu này cách trở ngàn dặm với kinh kỳ, biển rộng sông dài, xa xôi ai có biết, nay ta đem hai người thiếp bán cho nhà hàng viện, chắc được một số tiền khá, mặc sức phong lưu mà khi trở về, gia đình khỏi sanh ra điều nọ tiếng kia là khác nữa”.

Chàng nghĩ như vậy, bèn đến một nhà hàng viện tìm người chủ để thương lượng và định giá bán hai nàng, sau đó làm giấy ký nhận bạc, rồi bảo người theo chàng về lữ quán. Chàng nói dối với hai người vợ rằng: “đường về Tích Giang còn xa, mà ta đã hết tiền rồi; vậy hai nàng theo người bà con ta đây, về nhà tạm trú ít bữa, còn ta lo đi tìm người bạn làm việc trong thành, đòi tiền thiếu thuở trước để làm lộ phí”. Hai nàng tưởng thật, bèn theo gót người nhà hàng viện, còn chàng thì bỏ đi nơi khác.



 
gương nhân quả 2



Lúc đến nơi thì trời đã nhá nhem tối, trong nhà đèn thắp sáng trưng, lại thấy năm bảy mỹ nữ cùng ba bốn vương tôn công tử đang trò chuyện lả lơi. Hai nàng đã thầm biết đây là chốn bán phấn buôn hương, nhưng chưa rõ ý chồng gửi gắm vào đó thế nào, sau thấy một bà đốt đèn thắp nhang rồi bảo làm lễ bái yết, hai nàng ngạc nhiên hỏi rằng: “Thưa bà! Chúng tôi thơ ấu, đến đây chưa rõ đầu đuôi, nay bà bảo vào bái yết gia đường, thiệt chúng tôi chưa hiểu danh phận gì, xin nhờ bà tỏ cho biết”.

Bà chủ nghe hai nàng hỏi, liền nổi giận đáp rằng: “hai đứa bây khờ quá! Chớ không hiểu sự gì hay sao? Chồng của bây đã làm tờ bán hai đứa bây cho ta lấy 300 lượng bạc rồi. Đây này! Ta đưa tờ ấy cho hai đứa bây xem, như có biết tuồng chữ của chồng, thì nhìn lấy tự hiểu”. Hai nàng trông thấy tờ giấy quả đúng là chữ viết của chồng, thì thất kinh hồn vía, liền ôm nhau khóc òa tấm tức tấm tưởi.

Mọi người trong nhà xúm lại khuyên lơn an ủi, nhưng hai nàng vẫn dòng châu nhỏ đượm ấm ức suốt đêm. Gió thu hiu hắt, thổi lọt song đào, hòa với tiếng mưa đêm nhỏ tí tách trên nhành cây, như gợi thêm mối sầu trường đoạn, khiến cho hai nàng thương thân tủi phận thút thít khóc hoài. Tiếng trống lầu Nam điểm nguyệt, dường đã khắc ba lần, cả nhà đều nồng nàn giấc điệp, hai nàng bèn lén dậy mở cửa rủ nhau trốn đi.

Khi đến mé sông, hai nàng cùng nhau kêu trời mà khóc than rằng: “chúng tôi sanh làm kiếp liễu bồ, thân hèn phận mỏng, ơn cha chưa trả, nghĩa mẹ chưa đền, những tưởng gá duyên vào nhà hàng uyển văn chương mà nhờ bóng tùng quân che thân cát lũy, trước tròn phận nương khăn đỡ trắp, sau đền đáp nghĩa song thân. Nay dè đâu gặp người bạc hạnh, lòng chó dạ lang, học thói Sở Khanh mà vùi lấp chúng tôi đến nông nỗi này. Số kiếp phù du này không còn hy vọng chi nữa! Cha mẹ ơi! Vậy cha mẹ ở xa xôi có thấu nỗi này chăng? Đêm nay là đêm hai con từ biệt cõi Dương trần, dòng nước sông này là phần mộ của hai con. Xin cha mẹ tha lỗi cho hai con!”.

Hai nàng liền trách chồng rằng: “bạc nghĩa làm chi lắm vậy, hỡi chàng! Nào lời thề biển, nào chữ nguyện non, những ước trăm năm vuông tròn duyên tơ tóc, mà nay nửa đường bẻ gánh, tham lợi dứt tình, đành đem thân chị em thiếp xô vào nơi hầm lửa đỏ. Chàng là người văn chương chữ nghĩa có thấu nổi đoạn trường này chăng? Chàng có biết hai thiếp hôm nay phải gởi thân cùng ngọn thủy triều! Nỗi oan ức này hai thiếp thề không nguôi được, nếu linh hồn còn cảm biết được, thì xin hóa làm chim tinh vệ, bể oan quyết lấp cho vừa lòng mới cam!”. Hai chị em than khóc xong liền nhắm theo dòng nước đành thân cát lấp sóng vùi.

Lại nói đến Phùng Thuyên từ khi bán đứng hai người vợ rồi, lấy tiền bỏ đầy túi, nào là ca lâu, nào là tửu quán, mặc sức phong lưu, nay cuộc u bồ, mai sòng tào cáo, chẳng được mấy bữa mà trong túi đã lưng vơi. Chàng lại mê đắm một người kỹ nữ, nào khi tống tình, nào khi hiến kỵ, làm cho chàng còn bao nhiêu của cũng trôi theo cái miệng anh đào. Đến khi chàng hết tiền, thì con kỹ nữ chẳng thèm để ý đến chàng nữa, mà bỏ đi đâu mất. Lúc ấy chàng càng nghĩ càng buồn, rồi nhớ đến sự phụ tình lại càng hối hận; nhưng việc đã lỡ rồi, chàng biết liệu làm sao, phần thì tứ cố vô thân, phần thì trong mình hết tiền, nên phải đi xin kiếm miếng ăn qua ngày cho đến khi về tới quê nhà.

Người vợ ở nhà, thấy chàng về thì mừng rỡ, vui chén tẩy trần, rồi thuật lại rằng: “cách đây mấy ngày, thiếp có nằm chiêm bao thấy hai người thiếu nữ cùng hai người lính đến đây kiếm chàng, có cầm một cái thẻ bài, trong đề bốn chữ “Tróc nã Phùng Thuyên”. Thiếp thấy vậy mà không biết việc hung thế nào, nên thuật lại cho chàng rõ”. Phùng Thuyên nghe vợ nói liền hoảng hốt, đâm ra ưu phiền mãi, nằm không yên, ngồi không vững, mới bảo vợ đem rượu uống giải khuây.

Khi chàng lên lầu nằm ngủ, mới vừa thiu thiu giấc điệp, bỗng thấy hai nàng tiểu thiếp đến xỉ mạ và mắng nhiếc, kế đến hai người lính đưa thẻ bài ra và đem xiềng lại trói. Chàng hoảng kinh la lớn lên một tiếng, rồi lồm cồm ngồi dậy chạy tuốt ra trước lầu, không may quá bước té nhào xuống sân, bị đập đầu vào đá mà phải bỏ mạng. Cả nhà xúm lại khóc than thương xót, rồi lo việc tống táng.



 
gương nhân quả 3



Cách tháng sau, người vợ lại nằm chiêm bao thấy chàng về, có hai người lính theo giữ và trông thể sắc của chàng như người tù trong khám, áo quần rách rã, mình mẩy ốm nhom, vừa bước vào nhà vừa than khóc rằng: “Nàng ơi! Xin nàng làm ơn coi có phương chi thì lo cứu tôi, vì khi ở trên dương thế, tôi đã làm chuyện bạc nghĩa phụ tình, nên nay dưới Diêm đình khép án rất nặng, khi thì bị bỏ vào nhiệt ngục, nóng hực cả mình, khi thì bị giam vào hàng lao, lạnh gần muốn chết, thảm khổ không biết dường nào! Tôi không giấu chi nàng, nguyên lúc tôi đi thi hội, vào Yên Kinh có cưới hai người tiểu thiếp, đem về đến Dương Châu, chẳng may lộ phí không còn, tôi đem hai ả bán cho một thanh lâu. Hai ả phiền tình, bèn đến sông mà tự vận, rồi oan hồn về dưới Diêm đình cáo tôi, nên Diêm vương truyền lệnh bắt tôi về dưới mà kết án cho tôi rằng phụ nghĩa bạc tình. Nay tôi xin nàng có nghĩ đến chút tình chồng vợ, thì rước giùm một vị Hòa Thượng mà tụng kinh cầu siêu, họa may có giảm bớt tội cho tôi chăng!”

Người vợ nghe mấy lời liền giật mình thức dậy, mới biết là điềm chiêm bao, bèn lấy làm thương xót, rồi lo việc trai đàn mà cầu siêu cho chồng. Than ôi! Làm người không nên si tình mà cũng đừng quá phụ nghĩa. Như chàng Phùng Thuyên là một người văn chương lỗi lạc nổi tiếng trong hàng Nho sĩ, trước bị tình si, nên phải hỏng khoa thi hội; sau lại phụ nghĩa, nên phải mang quả báo vào mình. Ai gọi chỗ u minh không nghiệp quả. Thế mà ở đời còn lắm kẻ lặn hụp trong bể ái, ham làm những điều bất nghĩa mà không tự tỉnh lấy việc Phùng Thuyên đó làm bia!...



 
gương nhân quả 4



MỤC LỤC:
TIỂU TỰA
GƯƠNG QUẢ BÁO
  • Phụ Tình Mang Báo
PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ
  • Niệm Phật Cứu Chủ Khỏi Đọa
NHƠN QUẢ BÁO ỨNG
  • Sự Tích Của Chàng Trương Ẩn
  • Trả Bạc Được Phước
  • Hiếu Thuận Là Mẹ Của Hạnh Phúc Và Hòa Bình Xã Hội
  • Thắng Phục Tâm Tà
  • Giết Người Thường Mạng
  • Lòng Lành Đổi Tướng Thay Tên
  • Cái Nghèo Có Bán Được Chăng?
  • Tỳ Kheo Vô Di Và Nàng Hàng Nang Thọ Ác Báo
  • Mẹ Khóc Con Cười
THÍ ÍT PHƯỚC NHIỀU
  • Sự Tích Nàng Bạch Tịnh Xuất Gia
  • Hại Người Tức Tự Hại Mình
  • Cứu Nạn Thần Vòng
LÒNG THÀNH ĐƯỢC PHẬT CỨU
  • Niệm Phật Khỏi Chết
  • Tớ Nghĩa Nên Nhà
  • Có Vay Có Trả
  • Lạy Phật Cầu Chồng
  • Nhờ Vợ Tu Hành Mà Chồng Khỏi Đọa
  • Một Nàng Con Gái Mười Ba Tuổi Ngộ Đạo
  • Tin Phật Phật Độ
  • Hiếu Nghĩa Cảm Phật
  • Tu Hành Cần Có Giới Đức
  • Người Đức Độ, Thêm Thọ, Được Con
  • Sát Nghiệp Chiêu Báo
  • Không Ham Sắc, Được Quả Tốt
  • Bán Thân Lấy Tiền Làm Chay Bố Thí
  • Làm Lành Được Phước, Làm Dữ Bị Họa
  • Một Vị Tăng Trả Nợ Túc Khiên
  • Sám Hối Được Sanh Lên Cõi Trời
  • Sự Quả Báo Của Vua Sài Đế
  • Sự Chuyển Kiếp Của Người Làm Dép
  • Tiền Thân Của Con Dê
  • Một Sự Thác Sanh Rất Minh Mặc
  • Một Vị Sa Môn Chú Nguyện Cho Con Chó
  • Con Nai Cầu Cứu Mạng
  • Bỏ Nho Đầu Phật
  • Thí Ít Được Nhiều
  • Vợ Chồng Luận Đạo
  • Nàng Kỳ Thị Kể Chuyện Lữ Đồng Tân Đầu Phật
  • Gương Chuyển Sanh Có Hiện Chứng
SỰ LINH CẢM CỦA ĐỊA TẠNG BỒ TÁT
  • Lời Dẫn
  • Tiền Thân Của Đức Địa Tạng Bồ Tát
  • Sự Tích Của Đức Địa Tạng Bồ Tát Chuyển Thế
  • Nghe Hồng Danh Đức Địa Tạng Thoát Khỏi Gông Cùm
  • Vẽ Tượng Đức Địa Tạng Khỏi Nạn Chìm Thuyền
  • Con Tạo Tượng Đức Địa Tạng, Cha Mẹ Được Sanh Về Cõi Trời
  • Đức Địa Tạng Bồ Tát Cứu Tội Nhân Ở Diêm Đình
  • Niệm Danh Hiệu Đức Địa Tạng Khỏi Bệnh Quỷ
  • Nhờ Đức Địa Tạng Cứu Thoát Nạn Cọp Xé
  • Tạo Tượng Đức Địa Tạng Cầu Siêu Cho Thân Mẫu
  • Niệm Danh Hiệu Đức Địa Tạng Khỏi Nạn Binh Đao
  • Tụng Kinh Địa Tạng Cứu Mẹ Lành Bệnh Thủng



 
thông tin cuối bài viết 2
 
thông tin cuối bài viết 1
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây