BÊN NGOÀI TÔN GIÁO - ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA BÊN NGOÀI TÔN GIÁO - ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA Tác Giả: Đạt Lai Lạt Ma
Dịch Giả: Trần Ngọc Bảo
NXB: Tôn Giáo
Số Trang: 295
Hình Thức: Bìa Mềm Có Tay Gập
Ngày Xuất Bản: 12/2015
Trọng Lượng: 320gr
Độ Dày: 1,5cm
BNTG ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA 88.000 đ Số lượng: 1000030 Quyển
  • BÊN NGOÀI TÔN GIÁO - ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

  •  356 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: BNTG
  • Giá bán: 88.000 đ

  • Tác Giả: Đạt Lai Lạt Ma
    Dịch Giả: Trần Ngọc Bảo
    NXB: Tôn Giáo
    Số Trang: 295
    Hình Thức: Bìa Mềm Có Tay Gập
    Ngày Xuất Bản: 12/2015
    Trọng Lượng: 320gr
    Độ Dày: 1,5cm


Số lượng
Một biến cố chưa từng có: một vị lãnh đạo tôn giáo thế giới được yêu quý đề nghị một đường lối để sống một đời đạo đức, hạnh phúc, và tâm linh vượt ngoài tôn giáo và cung hiến một chương trình về đào luyện tâm trí cho sự vun bồi các giá trị nhân bản then chốt.

Mười năm trước đây, trong cuốn sách bán chạy nhất tựa đề Đạo đức cho một thiên niên kỉ mới (Ethics for a New Millennium), Đức Dalai Lama đề nghị một lối xúc tiến với đạo đức dựa trên những nguyên lí đại đồng hơn là những nguyên lí tín ngưỡng. Bây giờ, trong tác phẩm Bên ngoài tôn giáo (Beyond Religion), Đức Dalai Lama, với lòng từ bi và thẳng thắn bậc nhất, triển khai và đào sâu thị kiến cho con đường phi tôn giáo. Siêu việt lên những "chiến tranh tôn giáo" đơn thuần, ngài vạch ra đại cương của một hệ thống đức lý chung cho thế giới được san sẻ của chúng ta, trong sự tôn trọng trọn vẹn đối với tôn giáo. Với quyền uy ở mức cao nhất của tâm linh và trí tuệ, Đức Dalai Lama đưa ra lời kêu gọi thống thiết về điều ngài gọi là "con đường thứ ba", một con đường dẫn tới đời sống đạo đức, hạnh phúc và tới một cộng đồng nhân loại toàn cầu dựa trên sự hiểu biểt và tôn kính nhau. Bên ngoài tôn giáo là một phát biểu thiết yếu từ Đức Dalai Lama, là phác thảo cho tất cả những ai muốn chọn lựa không phải sự đồng nhất với một truyền thống tông giáo, nhưng vẫn mong mỏi một đời sống trọn vẹn tâm linh trong lúc họ hoạt động cho một thế giới tốt đẹp hơn.


 
bên ngoài tôn giáo


Theo sự quan sát khách quan, người ta đối xử với đồng loại, cư xử với thế giới xung quanh như thế nào, phần lớn tùy thuộc vào cách người ta nhận thức về mình như thế nào. Chúng ta có cách nhìn nhận “mình là ai” khác nhau, và những quan điểm khác nhau này ảnh hưởng lên hành vi của chúng ta. Chẳng hạn, chúng ta có thể xem xét mình theo khía cạnh phái tính, như nam hay nữ, hoặc theo khía cạnh là tín đồ của tôn giáo này hay tôn giáo kia, hay thành viên của chủng tộc này, quốc tịch này hay chủng tộc, quốc tịch kia. Chúng ta có thể nghĩ về mình về phương diện gia đình, là người cha hay người mẹ, chẳng hạn. Hoặc giả, chúng ta đồng hóa mình với nghề nghiệp, trình độ học vấn, hay với những thành tựu trong đời. Tùy thuộc vào góc nhìn mà chúng ta có những ao ước gì cho bản thân. Và điều này, đến lượt nó, lại tác động đến hành vi của chúng ta, đến cách cư xử của chúng ta đối với người khác.

Mọi người đều có đặc điểm nhận dạng riêng của mình. Bởi vậy, điều quan trọng đầu tiên, trong nỗ lực phát triển một cách tiếp cận mang tính chất phổ quát thật sự đối với vấn đề đạo đức, là phải có một sự hiểu biết về điều gắn kết tất cả chúng ta, đó là nhân tính chung của chúng ta. Tất cả chúng ta đều là con người, tất cả bảy tỷ con người. Về phương diện này, thì chúng ta đều giống nhau trăm phần trăm.

Để bắt đầu chúng ta hãy xem xét điều làm cho chúng ta thành con người trên thực tế. Trước hết, đơn giản là thực tại vật chất, là thân thể của chúng ta, được tạo thành bởi nhiều bộ phận, nào là xương, cơ, máu - rất nhiều phân tử, nguyên tử, vân vân.

 
bên ngoài tôn giáo 1



Ở mức độ vật liệu căn bản, không có sự khác biệt về chất giữa vật chất hình thành con người, chẳng hạn, với vật chất hình thành nên một tảng đá. Về phương diện thành tố nguyên vật liệu thì một tảng đá và thân thể con người cuối cùng được tạo ra bởi sự tập hợp các hạt bé tí. Khoa học hiện đại cho biết tất cả vật chất trong vũ trụ đều không ngừng được tái chế. Nhiều nhà khoa học có quan điểm cho rằng chính các nguyên tử trong cơ thể chúng ta có thời thuộc về các vì sao ở cách ta rất xa trong không gian và thời gian.

Tuy nhiên, rõ ràng con người thuộc về một bảng phân loại khác với một tảng đá. Chúng ta được sinh ra, lớn lên, và rồi chết đi như các cây cỏ và tất cả các động vật khác. Tuy nhiên, khác với cỏ cây, chúng ta có kinh nghiệm ý thức. Chúng ta có cảm giác đau đớn, thể nghiệm cảm giác sung sướng. Chúng ta là những sinh vật có tri giác mà ở Tây Tạng gọi là semden.

Trong một cuộc thảo luận với người bạn đã quá cố của tôi, nhà sinh vật học thần kinh Francisco Varela, chúng tôi nói về điều phân biệt các dạng động vật có tri giác với các loài cỏ cây. Theo tôi nhớ thì ông ta đề xuất một tiêu chí, đó là “khả năng của một cá thể di chuyển từ chỗ này đến chỗ kia”, hay đại khái ý của ông là như thế. Nếu một sinh vật có thể tự di chuyển thân của nó đi từ một nơi sang nơi khác để thoát hiểm hay để tồn tại, hay để kiếm thức ăn hay để sinh sản, thì nó có thể được xem là một sinh vật có tri giác. Định nghĩa này làm cho tôi thấy thú vị, vì nó hàm ý, từ quan điểm khoa học, xác định một sinh vật liên quan đến khả năng cảm thấy sung sướng và đau khổ, và phản ứng trước những cảm giác này, dù rằng những phản ứng đó phần lớn hay hoàn toàn mang tính chất bản năng. Ở mức độ cơ bản nhất, khả năng phản ứng trước môi trường xung quanh với kinh nghiệm có ý thức, là cái mà chúng ta có thể xem, theo nghĩa rộng nhất của nó, là “tâm”.


 
bên ngoài tôn giáo 2



Đây không phải là lúc để đưa ra một sự bàn luận dông dài về đề tài rất rộng là cái gì tạo thành cái “tâm” và cách mà tâm con người được phân biệt với tâm của những sinh vật khác, cho nên chỉ cần vài dòng thôi cũng đủ.

Những thành tố đầu tiên của kinh nghiệm của con người, theo khoa học hiện đại, là những dữ liệu của các giác quan của chúng ta - cảnh vật, âm thanh, sự đụng chạm, mùi, và vị. Ở mức độ nhận thức là kinh nghiệm chủ quan của chúng ta về những cảm giác cơ bản này, đó là chúng ta cảm nhận chúng là dễ chịu, khó chịu, hoặc trung tính, hoặc kết hợp những nhận thức này. Trong chừng mực mà chúng ta biết được, thì chúng ta chia sẻ loại nhận thức từ kinh nghiệm của giác quan như dễ chịu và khó chịu với các loài động vật khác. Chẳng hạn, các loài chim và thú có vú, dường như cũng nhận thức kinh nghiệm giác quan theo cách giống như chúng ta, trong khi các loài động vật khác, như cá và côn trùng, dường như khác với chúng ta một cách đáng kể về phương diện này.

Một người mẹ khóc thét lên sau khi phát hiện đứa con gái 3 tuổi của mình đã chết, bị chôn vùi dưới đống đổ nát trong trận động đất kinh hoàng ở Nepal tháng 4-2015. Một trong những hình ảnh ấn tượng của nhiếp ảnh gia James Nachtwey được tạp chí Times bình chọn là một trong 10 ảnh của năm 2015. Dù lĩnh vực nhận thức của kinh nghiệm giác quan có rộng lớn và đa dạng bao nhiêu đi nữa, thì rõ ràng là mọi sinh vật có kinh nghiệm ý thức đều thiên về sự theo đuổi những kinh nghiệm dễ chịu và tránh né những kinh nghiệm khó chịu hoặc đau đớn. Về phương diện căn bản này, chúng ta, những con người, không khác lắm với những loài động vật khác. Giống như các loài động vật, chúng ta tìm cách tránh né đau khổ và tự nhiên bị thu hút về những kinh nghiệm dễ chịu hay sung sướng.


 
bên ngoài tôn giáo 3


Nhưng nếu xu hướng căn bản này là một đặc điểm xác định sinh vật có tri giác nói chung, thì con người vẫn tạo ra một nhóm riêng khá đặc biệt. Rõ ràng là ở con người có những đặc điểm khác hơn là chỉ phản ứng trước các kinh nghiệm giác quan. Chẳng hạn, chúng ta, không giống như chó hay mèo, phần lớn, phản ứng trước các kinh nghiệm thuần túy dựa trên bản năng. Con người chúng ta, đã tiến hóa qua hàng ngàn năm, tới một mức độ phức tạp kỳ diệu, cho nên chúng ta khác biệt với tất cả các loài động vật khác. Sự khác biệt này được phản ánh ở kích thước lớn của bộ não mà phần vỏ não đằng trước phát triển hơn nhiều so với não của các loài khác.

(Cách mà chúng ta tự thấy mình như thế nào sẽ kiến tạo thực tại hiện tiền như thế đó. Chính từ sự thay đổi cách nhìn làm thay đổi cuộc đời của mỗi người và góp phần thay đổi cả thế giới. Tất nhiên, sự thay đổi căn bản không thể trong một thời gian ngắn, mà sẽ diễn ra một cách từ từ qua sự gia tăng ý thức, và ý thức chỉ có được thông qua giáo dục).


 
bên ngoài tôn giáo 4


VÀI ĐIỀU VỀ TÁC GIẢ:
Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 - Tenzin Gyatso - tự cho mình là một Tu sĩ Phật giáo đơn giản. Ngài là bậc lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng. Ngài sinh vào ngày 06 tháng 07 năm 1935, trong một gia đình nông dân, tại ngôi làng nhỏ nằm ở Taktser, Amdo, đông bắc Tây Tạng. Vào tuổi lên hai, cậu bé, sau đó được đặt tên là Lhamo Dhondup, được công nhận là hóa thân của Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 - Thubten Gyatso.

Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma được cho là hiện thân của Đức Quán Thế Âm hay Chenrezig - vị Bồ Tát của Lòng Từ Bi và là vị Thánh bảo hộ của Tây Tạng. Bồ tát là những chúng sanh đã giác ngộ, được truyền cảm hứng từ lòng khát khao muốn đạt được Phật Quả vì lợi lạc của tất cả chúng sanh, người đã thệ nguyện tái sinh trở lại thế gian để giúp đỡ nhân loại.

Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma bắt đầu sự giáo dục chốn thiền môn của mình ở tuổi lên sáu. Chương trình giảng dạy được bắt nguồn từ truyền thống Nalanda, bao gồm năm môn chính và năm môn phụ. Các môn chính bao gồm logic, mỹ thuật, ngữ pháp tiếng Phạn, và y học, nhưng trọng tâm nhất là triết lý Phật giáo, được chia thành thêm năm loại: Prajnaparamita, Trí tuệ Ba La Mật; Madhyamika, triết lý Trung đạo; Vinaya, Giới luật Thiền môn; Abidharma, Vi diệu Pháp; và Pramana, logic và nhận thức luận. Năm môn phụ bao gồm thơ, kịch, chiêm tinh, sáng tác và từ đồng nghĩa.

Vào tuổi 23, Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma đã dự kỳ thi cuối cùng tại Chùa Jokhang ở Lhasa, trong Lễ Hội Đại Cầu Nguyện Hàng Năm (Monlam Chenmo) vào năm 1959. Ngài đã thi đậu với hạng danh dự và được trao bằng tiến sĩ Geshe Lharampa, tương đương với tiến sĩ bậc cao nhất trong triết học Phật giáo.


 
thông tin cuối bài viết
 
thông tin new 2
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây