BIỆN CHÍNH PHẬT HỌC - BỘ 3 QUYỂN (tạm hết) BIỆN CHÍNH PHẬT HỌC - BỘ 3 QUYỂN (tạm hết) Tác Giả: Thích Chúc Phú
NXB: Hồng Đức
Khổ: 14,5x20,5cm
Năm XB: 2018
Bìa: Mềm Có Tay Gập
Tập 1: 320 Trang – Dày: 1,8cm
Tập 2: 340 Trang – Dày: 1,9cm
Tập 3: 313 Trang – Dày: 1,8cm
BCPH SÁCH GIÁO LÝ 300.000 đ Số lượng: 1000030 Bộ
  • BIỆN CHÍNH PHẬT HỌC - BỘ 3 QUYỂN (tạm hết)

  •  972 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: BCPH
  • Giá bán: 300.000 đ

  • Tác Giả: Thích Chúc Phú
    NXB: Hồng Đức
    Khổ: 14,5x20,5cm
    Năm XB: 2018
    Bìa: Mềm Có Tay Gập
    Tập 1: 320 Trang – Dày: 1,8cm
    Tập 2: 340 Trang – Dày: 1,9cm
    Tập 3: 313 Trang – Dày: 1,8cm


Số lượng
Trong quá trình phát triển của Phật giáo, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên đã xuất hiện những tồn nghi trong giáo điển, trong việc quảng diễn pháp học, ngay cả trong nhận thức về Đức Phật và giáo pháp của Ngài. Những tồn nghi đó nếu không được lý giải thỏa đáng thì sẽ tạo nên nhiều hệ lụy mà tác động tiêu cực của nó không chỉ dừng lại ở trong một đời. Với tinh thần gạn đục khơi trong, tác giả Thích Chúc Phú đã nỗ lực biện giải những tồn nghi Phật học, kể cả việc phản biện những cách hiểu chưa đúng về giáo pháp và những vấn đề liên quan.

Tính đến nay, tác giả đã tập hợp công trình nghiên cứu của mình thành ba tập, với tên gọi là Biện chính Phật học. Trên tinh thần kỉnh trọng và tùy hỷ pháp, tôi có lời tán trợ nỗ lực này của tác giả và trân trọng giới thiệu đến chư tôn đức cùng bạn đọc gần xa.

 
biện chính phật học


LỜI NÓI ĐẦU
Trong nhiều lần duyệt tạng, chúng tôi đã ngập ngừng giữa những trang kinh khi nghĩ về công lao của tiền nhân trong việc giữ gìn, truyền thừa và làm sáng tỏ những lời dạy của Đức Phật. Với điều kiện không có sẵn bút, mực, giấy viết ở thời xưa, với quãng thời gian đủ để xóa tan bao đền dài, thành quách; nhưng những lời dạy của Đức Phật vẫn còn hiện hữu ở thế giới này đã nói lên sự đóng góp sâu dày của bao thế hệ người xưa.

Tuy nhiên, phát xuất từ những pháp thoại ban đầu của Đức Phật được giữ gìn bằng trí nhớ, nhưng đến khi được ghi lại bằng văn tự thì phải chịu sự tác động của các yếu tố tự nhiên và kể cả con người. Do vậy, đã có những bản kinh tuy mang danh Phật thuyết nhưng không tương ứng với Kinh, không phù hợp với Luật và thậm chí đi ngược lại với những nguyên lý cơ bản mà Đức Phật đã xiển dương suốt cả cuộc đời.

 
biện chính phật học 1



Từ lời dạy của Đức Phật trong kinh Trung Bộ: Ta chủ trương phân tích; ở đây, Ta không chủ trương nói một chiều (kinh Subha); đã tiếp thêm nguồn sinh lực để chúng tôi vững tin trên con đường nghiên cứu, nhằm chỉ ra đâu là lời Phật nói, đâu là do người sau thêm vào, cũng như biện giải những hiều lầm không đúng về Đức Phật, giáo pháp và những vấn đề liên quan. Với mong mỏi đó nên chúng tôi đã lấy tên tác phẩm là Biện chính Phật học.

Biện chính Phật Học là thành quả kết tinh của một quá trình nghiên cứu, biện giải kinh văn và những vấn đề khác nhau liên quan đến Phật giáo. Công việc này chúng tôi đã khởi sự từ năm 2010 và đến nay đã công bố 34 đề tài khác nhau, được in thành hai tập mang tên Biện chính Phật học tập 1 và tập 2.

Mùa Hạ năm 2018, chúng tôi tiếp tục công bố 16 đề tài nghiên cứu và dự kiến sẽ in thành Biện chính Phật học tập 3. Thế nhưng, trước nhu cầu thiết thực của chư tôn đức và độc giả, chúng tôi tổng hợp cùng với hai tập đã in thành một bộ Biện chính Phật học gồm 3 tập.

Có thể nói, với tâm nguyện sẽ tận hiến đời mình nhằm mục tiêu biện giải kinh văn, nếu như các điều kiện khách quan cho phép, chúng tôi sẽ tiếp tục nỗ lực và kiên định với hướng đi này. Do vậy, số lượng ba tập Biện chính Phật học không phải là điểm dừng cuối. Mặc dù cẩn trọng và cân nhắc nhưng sẽ khó tránh khỏi những sơ suất do chưa đủ chú tâm, trên tinh thần học hỏi và cầu thị, chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của chư tôn đức và bạn đọc gần xa.

Trân trọng!
THÍCH CHÚC PHÚ


 
biện chính phật học 2



MỤC LỤC BIỆN CHÍNH PHẬT HỌC - TẬP I

Lời giới thiệu
  • Lời nói đầu     
  • Vấn đề Phật sự
  • Bàn về những luận điểm sai lầm của Schumann trong tác phẩm Đức Phật lịch sử
  • Khảo sát về bát cháo sữa của nàng Sujātā và ngôi tháp gạch bên bờ sông Niranjana  
  • Nghiên cứu về vương nạn Tỳ-lưu-ly và cuộc thiên di đến Gandhāra của dòng họ Thích     
  • Nguồn gốc tín niệm cúng sao giải hạn  
  • Mộc dục tượng thờ và tượng Đản sinh 
  • Khảo luận về  bản kinh Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng 
  • Kinh Vu lan - Khảo về nguồn gốc Hán tạng và Nikāya 
  • Người xuất gia và vấn đề lễ lạy cha mẹ 
  • Kinh điển phi Phật thuyết trong kinh tạng Nikāya 
  • Những lời dạy nghiêm khắc của Đức Phật  
  • Trầm tư về vấn đề phóng sanh
  • Khương Tăng Hội cầu xá-lợi - huyền thoại và sự thực
  • Nghệ thuật Phạm-bối trong kinh điển Phật giáo
  • Khảo sát cụm từ phụng chiếu dịch trong Đại tạng kinh Đại chính tân tu 
  • Từ quan điểm Nhất-xiển-đề thành Phật đến việc sám hối tội Ba-la-di: Khả tính cứu độ và khai phóng của Phật giáo  

ĐỌC ‘BIỆN CHÍNH PHẬT HỌC’ – NGHĨ VỀ LỜI ĐỨC PHẬT RẦY

NGUYÊN GIÁC
Bạn đã từng nghe Đức Phật rầy la bao giờ chưa? Ngay cả nếu bạn trong một kiếp tiền thân đã từng có duyên nhập chúng trong thời cận kề các bậc thánh “Thiện lai Tỷ khưu,” cũng chưa hẳn bạn đã được tận mắt thấy Đức Phật rầy la một ai. Hiếm hoi lắm, nhưng trong kinh điển có ghi lại một số trường hợp.

Nói “Đức Phật rầy la” là nói kiểu đời thường, dùng chữ kém văn nhã (nơi đây, tôi xin chịu lỗi đã dùng chữ quê mùa đời thường để làm nổi bật những cách dùng chữ tuyệt vời hơn): Nhà nghiên cứu Thích Chúc Phú đã sử dụng chữ tinh tế và bác học, rằng đó là “Những Lời Dạy Nghiêm Khắc của Đức Phật” – bài phân tích này nằm ở các trang 219-228 trong sách Biện Chính Phật Học Tập I, do NXB Hồng Đức ấn hành năm 2018.

Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua: gần như tất cả những gì Thầy Thích Chúc Phú viết xuống đều rất độc đáo, rọi ánh sáng tới những điểm rất bất ngờ, và mang sức mạnh của sử liệu có thể kiểm chứng được bằng kinh luận. Thú thật, bản thân tôi không đủ uyên bác về cổ ngữ để tìm hiểu một số điểm có thể là khả vấn trong sách, nhưng cảm nhận rằng lý luận và chứng cớ của tác giả Thích Chúc Phú hầu hết là thuyết phục.

 
biện chính phật học 3


Nhóm 3 cuốn Biện Chính Phật Học Tập I, Tập II, Tập IIIchứa đựng rất nhiều thông tin về kinh điển khó tìm nơi khác. Có thể nói ngắn gọn rằng, trên đời này không có bao nhiêu tác giả có đôi mắt sáng như Thầy Thích Chúc Phú. Tác giả Thích Chúc Phú trong bài “Những Lời Dạy Nghiêm Khắc của Đức Phật” ghi nhận một số trường hợp Đức Phật sử dụng thô ngữ, kèm với lời cảnh giác rằng “lời khó nghe nhưng tận trong sâu thẳm của Đức Phật, là lòng thương yêu chúng sanh không hạn lượng… có tác động mạnh mẽ tới một đối tượng hoặc một nhóm đối tượng cụ thể nào đó… Nói rõ hơn, thô ngữ xuất hiện trong kinh điển bao giờ cũng gắn liền với một ngữ cảnh. Nếu tách rời thô ngữ ra khỏi ngữ cảnh thì sẽ hiểu sai lời Phật dạy trong kinh điển.” (BCPH Tập I, trang 221)

Có thể tóm lược vài trường hợp trong bài nêu trên như sau:

-- Đức Phật đưa ra hình ảnh “một con trùng phẩn, ăn phân”… và liên hệ “Tỳ kheo bị lợi đắc” (Thầy Thích Chúc Phú đưa ra ba dẫn chứng: Kinh Tương Ưng Bộ 1, tập 2, thiên Nhân duyên, chương 6, Tương ưng lợi đặc cung kính, phẩm thứ nhất, kinh Trùng phẩn; tương tự như vừa dẫn, nhưng ở phẩm thứ tư, kinh Xe; Kinh Tiểu Bộ, tập 4, Chuyện con voi Mahilamukha, số 26);


 
biện chính phật học 4


-- Sau khi Đại đức Pindola Bharadvaja vận dụng thần thông bay lên hư không đoạt lấy cái bát quý làm từ gỗ đàn hương trước chứng kiến của cư dân kinh thành Rajagaha, Đức Phật gọi Đại đức tới và nghiêm khắc huấn thị: “Giống như người đàn bà cho xem chỗ kín vì mục đích của những đồng xu tầm thường; này Bharadvaja, tương tự như thế vì mục đích cái bình bát gỗ tầm thường, pháp thượng nhân tức là sự kỳ diệu của phép thần thông đã bị ngươi để lộ ra trước hàng tại gia.” (Thầy Thích Chúc Phú đưa ra dẫn chứng: Cullavagga, chương Các tiểu sự, Bình bát bằng gỗ đàn hương.)

-- Trường hợp Tỳ kheo Vakkali, ghi lại trong Trưởng lão Tăng kệ, chỉ say mê ngắm nhìn dung nhan Đức Phật trong các thời pháp. Sau nhiều lần khuyên nhẹ nhàng, không được, Đức Phật để tới ngày cuối an cư mùa mưa, mới kêu Vakkali tới bảo: “Này Vakkali, hãy đi đi!”  Đuổi ra khỏi giáo đoàn là trừng phạt quá nặng nề. Do vậy, ngài Vakkali leo lên núi Linh Thứu để tự sát, ngay giây phút nguy ngập liều thân đó, Đức Phật xuất hiện kịp thời, đưa ra lời dạy thích nghi, và không lâu sau đó, Vakkali chứng quả A La Hán.

--  Trường hợp Đức Phật nói về bảy ví dụ về nguy hại của tham dục để khiển trách những người xuất gia nhưng vẫn tơ tưởng chuyện thế tục, dùng các cặp hình ảnh tương phản như gần gũi người thiếu nữ hay chấp nhận tang thương dưới sức nóng của ngọn lửa, như nhận sự cúng dường và nhận những hình phạt tàn khốc. Nghe xong bảy ví dụ, có “có khoảng sáu mươi vị Tỷ-kheo hộc máu nóng từ miệng, có khoảng sáu mươi Tỷ-kheo từ bỏ học pháp và hoàn tục, nghĩ rằng: "Khó làm thay, Thế Tôn! Thật khó làm thay, Thế Tôn!". Có khoảng sáu mươi Tỷ-kheo, với tâm được giải thoát, không chấp thủ các lậu hoặc.” (Thầy Thích Chúc Phú đưa ra dẫn chứng: Kinh Tăng Chi Bộ, tập 3, chương 7 pháp, Đại phẩm, kinh Lửa.)


 
biện chính phật học 5


Phần trên là tóm tắt bài “Những Lời Dạy Nghiêm Khắc của Đức Phật” của tác giả Thích Chúc Phú. Bài được in trong tuyển tập Biện Chính Phật Học Tập I, nhưng hình như không có trên Internet. Cảm giác của một người độc giả trình độ trung bình như tôi là, như dường Thầy Thích Chúc Phú nhắn gửi gì tới một số trường hợp cụ thể trong nước, mà người ngoài nước có thể không hình dung ra. Dù có ám chỉ ai hay không, bài viết dĩ nhiên là có lợi, cũng là lời cảnh giác, rằng coi chừng Đức Phật rầy đó.

Trong kinh Tăng Chi AN 4.111 (Kesi Sutta), bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu, ghi lại cuộc đối thoại giữa Đức Phật và người dạy ngựa tên là Kesi. Đức Phật hỏi Kesi rằng, ông dạy ngựa ra sao, thì Kesi bạch rằng có ba loại ngựa: loại thứ nhất là ngựa dễ thuần hóa, chỉ nói mềm mỏng là đủ để nhiếp phục; thứ nhì là loại ngựa ngang ngược, phải dùng lời nói thô ác mới thuần hóa được; nhưng loại ngựa thứ ba, thì “không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng và thô ác của con, thời bạch Thế tôn, con giết nó. Vì sao? Vì mong rằng nó không làm mất danh dự cho gia đình thầy của con!”

Rồi Kesi hỏi Thế Tôn dạy các tu sĩ ra sao. Đức Phật nói tương tự, và tiếp: “Này Kesi, nếu người đáng được điều phục không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng của Ta, không chịu nhiếp phục với lời nói cứng rắn, không chịu nhiếp phục với lời nói vừa mềm mỏng vừa cứng rắn, này Kesi, thời Ta giết hại người ấy!”
Kesi thắc mắc, và được Đức Phật trả lời, trích kinh này như sau:


“—Nhưng bạch Thế tôn, sát sanh không xứng đáng với Thế tôn. Tuy vậy, Thế tôn nói: “Này Kesi, Ta giết hại người ấy”.

—Thấy vậy, này Kesi, sát sanh không xứng đáng với Như Lai. Nhưng người đáng được điều phục ấy không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng, không chịu nhiếp phục với lời nói cứng rắn, không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng và cứng rắn, Như Lai nghĩ rằng người ấy không xứng đáng để được nói đến, để được giáo giới. Và các vị đồng Phạm hạnh có trí nghĩ rằng người ấy không xứng đáng để được nói đến, để được giáo giới. Bị giết hại, này Kesi là con người này, trong giới luật của bậc Thánh, bị Như Lai nghĩ rằng không đáng được nói đến, không đáng được giáo giới, bị các vị đồng Phạm hạnh có trí nghĩ rằng không đáng được nói đến, không đáng được giáo giới.”


 
biện chính phật học 6



Trong một kinh khác, Kinh Trung Bộ MN 22 (Kinh Ví Dụ Con Rắn), bản dịch Hòa Thượng Thích Minh Châu, cũng cho thấy Đức Phật dùng lời nghiêm khắc đối với ngài Arittha, một vị sư chấp thủ sai lạc, nói rằng nhà sư đó ngu si, đã xuyên tạc lời Đức Phật, trích như sau:

“—Này kẻ ngu si kia, sao Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy? Này kẻ ngu si kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng tự đủ bị chướng ngại? Ta đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Ta đã thuyết các dục được ví như khúc xương … Ta đã thuyết các dục được ví như miếng thịt … được ví như bó đuốc cỏ khô … được ví như hố than hừng … được ví như cơn mộng … được ví như vật dụng cho mượn … được ví như trái cây … được ví như lò thịt … được ví như gậy nhọn … Ta đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Và này kẻ ngu si kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ ngu si kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông.”

Tương tự, trong một kinh khác trong Trung Bộ, Kinh MN 38 (Đại kinh Đoạn tận ái), bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu, ghi lại sự kiện Đức Phật nói lời nghiêm khắc khi một nhà sư chấp vào tà kiến.

 
biện chính phật học 7


Kinh kể rằng, nhà sư Sati chấp vào tà kiến rằng có một thức “dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác.” Biết như thế, các nhà sư khác khuyên rằng như thế là sai, vì nói thế là xuyên tạc Thế Tôn, vì thực tế Đức Phật nói rằng thức là do duyên khởi, làm gì có chuyện không đổi khác.

Kinh ghi lời các nhà sư khác khuyên Tỳ Kheo Sati: “Hiền giả Sati, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Sati, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi; không có duyên thì thức không hiện khởi.” Nhưng Tỷ Kheo Sati “dù được các Tỷ-kheo ấy cật vấn, thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy.” Các nhà sư mới trình lên Đức Phật, và Đức Phật gọi Tỳ Kheo Sati tới để dạy, trong đó có lời nghiêm khác. Kinh MN 38 kể lại:

“—Thật sự là vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác.
—Này Sati, thế nào là thức ấy?
—Bạch Thế Tôn, chính thức ấy nói cảm thọ, thọ lãnh chỗ này, chỗ kia, kết quả các hành động thiện ác.


—Này kẻ mê mờ kia, vì ai mà Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Này kẻ mê mờ kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn nói là thức do duyên khởi, không có duyên, thì thức không hiện khởi? Và này kẻ mê mờ kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông còn tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ mê mờ kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông.”

 
biện chính phật học 8


Lời cuối bài, nơi đây xin trân trọng cảm ơn Thầy Thích Chúc Phú qua bộ sách Biện Chính Phật Học đã trình bày về nhiều đề tài chắc chắn là có nhiều Phật Tử thắc mắc. Bộ sách này hiển nhiên là cần có trong tủ sách của tất cả các gia đình Phật Tử.

Và cũng đặc biệt cảm ơn tác giả Thích Chúc Phú về bài viết ghi nhận khi Đức Phật dùng lời thô ngữ, một cơ hội cho được “góp thêm lời” nơi đây – trước là để ngợi ca Đức Phật đã dùng nhiều phương tiện giáo hóa chúng sinh, sau là để tán thán những cuộc nghiên cứu rất uyên bác của tác giả bộ sách Biện Chính Phật Học, trong đó, mỗi bài cũng đều như dường nhắc nhở tới một nan đề nào tại quê nhà chỉ nhằm để sách tấn tu học.

NGUYÊN GIÁC


 
biện chính phật học 9
 
thông tin cuối bài viết
 
thông tin new 2
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây