PHẬT, TỔ TRUYỀN ĐẠO PHÁP - SƠN THƯỢNG & VĂN QUÝ PHẬT, TỔ TRUYỀN ĐẠO PHÁP - SƠN THƯỢNG & VĂN QUÝ Biên Tập: Vân Sơn Thượng
Bình Chú: Nguyễn Văn Quỳ
Nhà Xuất Bản: Hồng Đức
Số Trang: 823 Trang
Hình Thức: Bìa Mềm
Khổ Sách: 14,5x20,5cm
Năm Xuất Bản: 2020
Độ Dày: 4cm
PTTĐ SÁCH GIÁO LÝ 210.000 đ Số lượng: 5 Quyển
  • PHẬT, TỔ TRUYỀN ĐẠO PHÁP - SƠN THƯỢNG & VĂN QUÝ

  •  197 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: PTTĐ
  • Giá bán: 210.000 đ

  • Biên Tập: Vân Sơn Thượng
    Bình Chú: Nguyễn Văn Quỳ
    Nhà Xuất Bản: Hồng Đức
    Số Trang: 823 Trang
    Hình Thức: Bìa Mềm
    Khổ Sách: 14,5x20,5cm
    Năm Xuất Bản: 2020
    Độ Dày: 4cm


Số lượng
Thay Lời Tựa
1- Phật và Tổ có khác biệt? Pháp Phật, Pháp Tổ có khác biệt? Phật-Pháp các đời có khác biệt? Phật Đạo là một Tôn giáo với giáo điều, hệ thống thần quyền và thế quyền do Đức Phật sáng lập? Phật Đạo là một hệ thống, tư tưởng triết học luận về thế gian? Về các vấn đề vật chất và tinh thần, hiện thực và trừu tượng, tích cực, tiêu cực, dấn thân, yếm thế, v.v..? Tất cả những vấn đề nêu trên, gọi chung là tất cả mọi luận nghị của thế gian về Đạo Phật đều không thuộc về Đạo Phật, không thuộc nghĩa do Phật-Pháp giảng nói! Cũng không phải pháp thế gian, không phải xuất thế gian, chỉ là các danh từ tự thân không có nghĩa, do ngôn thuyết thế luận tạo lập, xa lìa Phật Đạo. Vì tất cả mọi luận nghị của thế gian, đời này và mãi mãi các đời, kiếp sau đều chỉ là thế luận vọng tưởng, không ra khỏi 62 luận chấp, Đức Phật nói trong Kinh Phạm Võng. Tại sao?


 
phật, tổ truyền đạo pháp 1 min


Vì Phật, Tổ, Phật-Pháp, Đạo, thế giới chúng sanh, Bồ đề, Niết bàn, sanh - tử, luân hồi... chỉ là các danh từ giả lập, theo danh tướng nơi thế gian mà đặt tên, đó là danh tướng, danh sắc, mà bản chất là sắc - không, cũng lại là danh từ giả lập để diễn nói. Tự thân các câu, chữ, danh từ đều không có tự tính, tức không có tự ngã, cũng là không có nghĩa riêng cố định. Tại sao? Đức Phật nói: “Ngữ là sinh diệt. Nghĩa không sinh diệt”. Cho đến tứ đại, ngũ uẩn, ấm, giới, nhập cũng là những danh từ giả lập tùy thuận theo thế gian mà Đức Phật giảng nói. Tất cả đều là do tâm chấp trước, phân biệt sanh khởi vọng tưởng từ các danh tự, rồi tự tin rằng đó là sự thật, là chân lý. Mỗi người, mỗi nhóm, mỗi quốc độ, dòng tộc... cho rằng chỉ chân lý của mình là trên hết. Tranh luận không người thắng, kẻ thua vì không có “tông thông, thuyết thông” do lấy “pháp” làm chân lý. Mỗi người bảo vệ pháp của mình, đề cao bản ngã, ngã mạn, ngã kiến.

Đó là từ ý nghiệp dẫn đến khẩu nghiệp rồi thân nghiệp. Nguồn gốc của chiến tranh mọi cấp độ từ thế luận ra. Chẳng có chân lý nào từ các danh từ, thành tựu và tồn tại, thường còn. Danh từ không có nghĩa của pháp, chỉ là nghĩa vọng tưởng của văn tự. Vậy Phật-Đạo, Phật-Pháp là gì? Vì Phật-Đạo, Phật-Pháp không phải là sản phẩm do Đức Phật tạo thành. Phật không sanh ra Phật, không sanh ra Pháp vì Phật còn không có, chỉ là danh tự giả lập, sao còn sanh cái nọ, tạo cái kia. Phật là Đấng Bất - Động Tâm. Là Pháp thân với tâm thể không hình dáng, sắc màu, tướng mạo; không quá khứ, hiện tại, vị lai; không sanh, không diệt, không đến, không đi, không hành tung, dấu tích.

Phật là chúng sanh do tu hành từ vô lượng kiếp mà chuyển thành bậc không còn sanh diệt, dứt mọi phiền não, hết mọi uế trược, trong suốt rỗng không, đại trí huệ, đại từ bi hỷ xả. Bậc như thế, giả lập danh tự là Phật, đấng giác ngộ, là địa vị tu chứng theo Phật-Pháp, dẫn đến quả vị đối với chúng sanh tin và tu theo Phật-Pháp. Ngài đã trải qua tu chứng các pháp tiệm chứng, pháp ngộ chứng, pháp liễu chứng, pháp giác chứng mà thấy biết ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng và thọ mạng tướng nơi chính thân tứ đại, phàm phu của mình khi còn là người mang thân chúng sanh như nói trong Xà - Đà - Dà Kinh (Bổn Sanh): “Này các Tỳ-Kheo: Thuở quá khứ ta từng làm nai, làm gấu, làm cheo, làm thỏ, làm Quốc vương, làm Chuyển Luân Thánh Vương, làm rồng, làm kim xí điểu, v.v..”.

Không chỉ một lần. Như trong một kiếp làm Chuyển Luân Thánh Vương Đảnh Sanh, Ngài đánh chiếm hết mọi nơi trong Tứ Thiên Vương rồi dẫn quân lên trời Đế-Thích-Đề-Hoàn-Nhân. Sau một thời gian được Đế Thích mời cùng làm vua các cõi Trời, Ngài bỗng nảy sinh ý nghĩ muốn đuổi Đế Thích, một mình giữ ngôi Trời. Ác kiến vừa khởi, tức thì sa xuống thế gian. Cảnh vật thay đổi, chẳng ai biết đến tên, danh tự Đảnh Sanh ở vào đời nào nơi thế gian. Chẳng được như truyện Từ Thức gặp Tiên vào đời Trần (1388 – 1398) ở đất Hóa Châu, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Do từ tâm cứu nàng Giáng Hương mà được lên cõi Trời. Đến khi động lòng trần tục, còn được Tiên dẫn đường xuống cửa hang động mà tìm đường về quê cũ.


 
phật, tổ truyền đạo pháp 2


Cũng chẳng còn ai biết Từ Thức là ai, có từ bao giờ ở quê cũ của ông. Một năm ở với Tiên là ba đời ở thế gian. Từ Thức buồn bã ra đi theo cách của sanh tử, không theo Pháp Phật, vì dẫu đã sống trên cõi Trời mà lòng trần tục không mờ phai, chỉ tạm quên chốc lát. Ngài Đảnh Sanh dẫu thác mà Phật-Pháp đã tu chứng không mất, chỉ là tham dục chợt hiện rồi lại biến đi. Ngài tiếp tục tu hành tinh tấn các kiếp sau, rồi được đến bực Vô sanh pháp nhẫn mà được chư Phật thọ ký sẽ thành Phật Thích Ca Mâu Ni ở thế giới Ta bà, khi loài người ở đây có tuổi thọ 120 tuổi, đó là lời thọ ký của Đức Như-Lai Bảo Tạng. Sau, là thọ ký của Đức Phật Nhiên Đăng khi Ngài là một đệ tử Bà-la-môn xuất chúng, đi tìm thượng pháp, cao thượng hơn những pháp đã học trong Bà-la-môn giáo, rồi gặp Đức Phật Nhiên Đăng thọ ký cho Ngài sẽ thành Đức Phật Thích Ca Mâu-Ni.

Tiền thân vô lượng kiếp về trước của Đức Thích Ca Mâu Ni không chỉ có như vậy. Nhiều nơi, nhiều lúc, Đức Phật giải nói về tiền thân của Ngài cho người có tín tâm thấy biết con đường đến với Đạo của Ngài, tức cũng của mỗi một vị Phật quá khứ và tương lai, muốn lìa thân chúng sanh thành thân Phật. Đó là Đức Phật nói về các pháp thật tế mà Ngài đã tu chứng, trải qua vô lượng kiếp. Các pháp Ngài và chư Phật đã trải qua không sai khác. Chư Phật, Bồ tát hiện thế gian để nói những pháp đó, cũng có sẵn nơi mỗi một chúng sanh, gọi là pháp như thật, vì là có thật nơi thế gian, nơi mỗi chúng sanh. Chư Phật phát hiện ra chư Pháp như thật tế đó nơi chúng sanh, nơi chính thân chư Phật khi còn là chúng sanh. Và gọi đó là Phật - Pháp, Đệ nhất nghĩa đế cũng là thế đế, thành tựu viên mãn.

Mọi chúng sinh có thể tu chứng viên mãn thành tựu Phật, chẳng phải vì cái tên giả lập đó mà lầm lẫn rằng, đó là Pháp của Phật-Pháp tạo ra. Đó cũng là Đạo vậy. Cứu cánh đó không do Phật tạo ra, mà là những pháp do chư Phật phát minh và tu chứng pháp như thật tế, rồi trở lại thế gian giáo hóa giác ngộ chúng sanh. Con đường tu chứng các Pháp dẫn đến Đạo do vậy chẳng do chư Phật tạo ra, mà do chư Phật tu chứng và phát hiện, nên bậc tu chứng đó gọi là Phật; Pháp tu chứng vốn có đó gọi là Phật - Pháp. Đạo tu chứng đó gọi là Phật - Đạo. Tất cả chỉ là danh từ giả lập. Đức Phật xử dụng các danh từ để hiển bày Pháp, hiển bày tu chứng, hiển bày Đạo. Cả cái danh từ “hiển bày” cũng lại là giả lập, như huyễn, như hóa.

Không thấy, không biết chư Pháp như thật tế, quanh quẩn ngày đêm, năm tháng, đời kiếp quanh ta, thì mãi mãi mê mờ, trôi lăn trong dòng sanh tử, luân hồi; tự nhiên như dòng nước suối chảy liên tục không dừng nghỉ. Nếu lại chấp trước, phân biệt chư pháp như thật đó, vọng chấp đó là thường, đoạn mà tham đắm, ghét bỏ; cũng lại là trôi lăn trong vòng sanh tử luân hồi, như lớp lớp sóng biển không dừng nghỉ. Đây cũng là tà kiến, chấp có - không, đoạn - thường, ngã, ngã sở, tức pháp chướng về chánh kiến và sự chướng về sanh tử, phiền não ưu bị. Phá tà kiến nhị biên là Pháp Trung Đạo Phật thuyết... cũng là phá phiền não vô minh, là pháp mười hai nhân duyên, Bát Chánh Đạo, Tứ Thánh Đế... với phương tiện thiện xảo là lục Ba-la-mật, nhất thiết pháp không.

Các nhà thế luận, không thấy biết Đức Phật nói Pháp thật tế của thế gian, trời, người, của chính bản thân mỗi người. Trong đó là có xuất gia, tại gia, triết gia, luận sư, tư tưởng học thế gian... mà tranh cãi với Phật, tức là vọng tưởng, ngôn thuyết hý luận về những pháp thật tế nơi chính bản thân, bản tánh vậy. Cũng là không ra khỏi 62 tà kiến thế luận nơi thế gian, Phật giảng nói trong Kinh Phạm Võng. Học Phật-Pháp, tùy căn cơ tâm tư, ý nguyện, chí nguyện của mỗi người, mà tùy thuận với pháp thích hợp, không ai giống ai, pháp thật tế nơi thế gian, mỗi mỗi sai biệt. Dẫu mỗi người đều có hướng bơi riêng như vậy, nhưng đều ở chung trong biển trầm luân, cùng chí hướng đến bờ, hoặc cùng tham đắm trong biển trầm luân danh sắc, tâm lượng sai biệt không ai giống ai...



 
phật, tổ truyền đạo pháp 3


Do vậy, việc học nơi phương pháp, phương tiện truyền Đạo - Pháp của chư Phật, chư Tổ là cách học thiết thực Phật - Pháp vậy. Pháp Phật, Pháp Tổ không sai biệt, đều là thế đế, đệ nhất nghĩa đế nơi thế gian, xuất thế gian. Tại sao? Chỉ có Tam bảo Phật, Pháp, Tăng mà thôi. Cũng đều do tâm chân thật, thanh tịnh sanh khởi. Người tại gia, tự học, tự tu theo pháp Phật trong Kinh điển, dẫu cũng biết đó là việc ví như mò trăng đáy nước. Nhưng cũng nên tự biết, chẳng phải là làm một việc vô ích cho mình hoặc cũng chẳng lợi được cho ai, dẫu là đã vào lúc lực chẳng tòng tâm, cũng chẳng nên buông bỏ, dù chỉ còn chút sức lực suy tàn mà tâm tính chẳng suy tàn. Thế nhưng, đấy cũng là thời gian thuận lợi, quí báu còn lại; bỏ quên mọi việc sau lưng, toàn tâm toàn ý vén mây mờ trên đỉnh núi, chẳng phải là việc làm hư vọng.

Một mình thì khó biết chánh, tà. Cũng chẳng có thầy, chẳng hỏi được ai. Nếu một lòng tin đạo, đó là chánh kiến thì học pháp không sai, tự mình biết chẳng nương nhờ ai, đó là nương tâm Phật mà tu Đạo Phật. Mà Phật tại tâm, tâm là Phật, chẳng từ bên ngoài, chẳng do cầu mong. Nay, theo dòng Kinh điển Phật truyền Pháp, Tổ truyền Pháp của Phật Tổ, đời này qua đời kia. Từ đó suy nghĩ, bình chú theo sự thấy biết nơi Kinh điển. Suy nghĩ và bình chú xuyên suốt theo Kinh điển, theo Pháp của Phật; vì chư Tổ, Bồ tát hiện đời là quyến thuộc của Phật, là những bậc nối Pháp của Phật. Không có Pháp nào, không có tư tưởng riêng nào của Tổ nọ, Tổ kia, chẳng là của Tăng nọ, Sư kia. Tại sao? Vì tất cả đều là Phật - Pháp, là pháp thật tế nơi thế gian, quanh quẩn bên chúng sanh suốt ngày, đêm, năm, tháng, trọn đời, kiếp, đã được chư Phật phát minh tu chứng, rồi lấy đó giáo hóa thế gian. “Bình chứ” với tâm chân thật, rồi nhân duyên mà đến với chư bậc có tín tâm, đồng tâm sở nguyện nơi Phật - Đạo, mong cầu lời chỉ giáo khỏi mê lầm, thiển cận.

2- Ngay nơi Phật, Tổ truyền Đạo Pháp, tức hiểu Phật là ai, Tổ là ai, Pháp, Đạo ở đâu; tức ai giảng, ai nghe, pháp gì? Nghĩa gì? Người nào khác lấy tư duy thế luận “mà nói tâm là Phật, Thiền sư là Phật”, chỉ là lộng ngôn, hý luận; vì thế luận chỉ là các danh tự không có nghĩa, chẳng phải là Phật-Pháp. Tại sao? Vì Pháp như thật tế, là pháp thế gian. Kinh Đại Niết Bàn nói: “Như người nghèo thiếu nợ nhiều, vì sợ chủ nợ đòi mà ẩn trốn, nên gọi là trốn kín. Như-Lai thời không phải thế, Như-Lai không có nợ chúng sanh về pháp thế gian. Dầu đối với chúng sanh có nợ xuất thế, nhưng cũng chẳng ẩn mặt, vì Như-Lai luôn xem chúng sanh như con đẻ, mà thường diễn thuyết pháp nghĩa vô thượng”.

Tại sao Phật nói: “Dẫu đối với chúng sanh có nợ xuất thế”. Đó là “đại tâm nguyện” của Đức Phật từ vô lượng kiếp về trước, hơn hai A-tăng-kỳ-kiếp, lúc còn là vị Phạm Chí Bảo Hải, đã phát nguyện đại bị trước Đức Phật Bảo Tạng Như Lai, khi được Đức Phật Bảo Tạng Như Lai thọ ký Ngài sẽ thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế giới Ta bà khi loài người có thọ mạng 120 tuổi. Vì lòng đại bi, Đức Phật “thường diễn thuyết pháp nghĩa vô thượng” để cứu độ chúng sanh. Đó là diễn nói pháp thế gian, pháp xuất thế gian. Lìa pháp thế gian tức được pháp xuất thế gian. Đó là đạo giải thoát của Phật. Những gì là pháp thế gian? Đó là ba độc tương tục trong sinh tử, luân hồi: tham - sân - si. Do ba độc này hiện đời, sinh ra phiền não vì tham đắm tâm nơi: tham dục, sân khuể, si mê, mạn, nghi cùng vô minh từ vô thỉ tạo nghiệp báo đời này và đời sau.

Không tham dục, sân, si, mạn, nghi tức xa lìa: sát sanh, trộm cướp, tà dâm; nói lời độc ác, nói lời ly gián, nói lời hiềm khích, nói lời đưa đẩy dối gian; uống rượu, tà kiến, chấp trước, phân biệt... lìa mười pháp ác, bất thiện, là pháp xuất thế gian, được tâm thanh tịnh, tức tâm Phật. Cũng là dứt mọi phiền não, nguồn gốc các pháp thế gian, thì được thành tựu pháp xuất thế gian của chư Phật, Bồ tát. Đó là Đức Phật “thường diễn thuyết pháp nghĩa vô thượng” về Pháp như thật tế, tức Pháp thế gian, Pháp xuất thế gian. Tại sao lại bảo rằng chư Phật Thế-Tôn có tạng bí mật, hay kinh điển, ngữ lục Phật-Pháp của chư Phật, chư Tổ “trùng trùng, điệp điệp, lừa gạt cả một đời tu học của các thiền sư thế luận?” hoặc lại nói chư Phật, Tổ “lừa dối” vì hỏi đông, trả lời tây? Hoặc lại nói chư Phật, Tổ là chướng ngại việc tu thiền của các thiền sư? v.v...

Đó là lý do của các Thiền sư thế luận Trung Hoa, như các tăng nhân Nam- Nhạc Hoài-Nhượng, Mã Tổ, Bách Trượng, Hoàng Bá Hy Vận, Triệu Châu, Huệ Khả, Đức Sơn Tuyên Giám... và ở Đại Việt như các Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ, Huệ Nguyên (thế kỷ 13 và 17) cùng những Thiền sư thế luận khác chịu ảnh hưởng của dòng Thiền tông thế luận ngoại đạo Nam-Nhạc Hoài-Nhượng, khi giảng nói về Phật Đạo của Đức Thích Ca Mâu Ni; dù chư vị này trú xứ nơi Phật Môn với chư tượng Phật, Bồ tát, mà có tâm cúng phụng Tiên đạo, Nhân đạo, Bà-la-môn đạo, Phạm đạo như ngữ lục giữa sa- di Đường-Tuyên-Thông với Thiền sư Hoàng-Bá Hy-Vận, hoặc lộng ngôn lý luận như ngữ lục “chém rắn” của Thiền sư Qui Tông và “giết mèo” của Thiền sư Nam-Truyền...


 
phật, tổ truyền đạo pháp 4


Tất cả chỉ là ngôn thuyết vọng tưởng hý luận, không có tông thông, không có thuyết thông, không có pháp, không có nghĩa pháp, chỉ là những danh tự giả lập nơi thân giác, như Đức Phật nói về các nhà thế luận trong Kinh Lăng Già và Đại Trí Độ luận của Tổ 14 Long Thọ Bồ Tát. Thế nên, Đức Phật nói trong Kinh Niết Bàn: “Này Ca-Diếp! Nói đèn tắt đó, là nói Niết bàn của bực A-la-hán chứng, vì A-la-hán dứt tham ái phiền não nên dụ như đèn tắt. Bực A-Na-Hàm gọi là có tham, vì có tham nên chẳng được gọi là đồng với đèn tắt. Do nghĩa ấy nên ngày trước Như-Lai nói dụ như đèn tắt, chớ chẳng phải Đại Niết bàn đồng với đèn tắt.”

Dòng Thiền-Tông thế luận các đời đều phỉ báng Kinh điển Phật đạo, phỉ báng Phật, Pháp, Tăng mà tôn sùng nghĩa A-Tỳ-Đàm luận do các nhà thế luận ngoại đạo giảng trong Pháp Trí luận, Tỳ Bá Sa luận của tiên nhân Bà-la-môn tánh Ca Chiên Diên; Câu Xá Luận, Duy Thức học của Thế-Thân, rồi Thượng Tọa Bộ, Hữu Bộ, Thành Duy thức luận... Các thiền sư thế luận phỉ báng Kinh điển Phật đạo, tin nơi thuyết Hồ Hóa của Vương Phù mà chẳng biết chính sử thời tiền sử Trung Hoa, Lão Tử là Bồ tát Ca-Diếp hóa thân, với bài kệ khi Ngài đến Lưu-Sa, nước Kế Tân tìm Phật. Các Thiền sư thế luận cao ngạo là các nhà trí thức Nho học, chạy theo Hàn Dũ và các hủ nho, giả quân tử như Hồ Tôn Hiến trong truyện Kiều, hay các nho gia vì đặc quyền đặc lợi, vọng ngoại mà bài xích Phật đạo như Trương Hán Siêu, Ngô Sĩ Liên... mà chẳng biết trong chánh sử thời tiền sử Trung Hoa, Khổng Tử là Bồ tát Nho-Đồng hóa thân.

Cũng chẳng biết rằng vào thế kỷ 18-19, xuất hiện các bậc đại sĩ như Lê Quí Đôn, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ. Bên Trung Hoa thì các Nho gia đại sĩ như Tào Thực con Tào Tháo, Bạch Cư Dị... và không kể xiết những vị chẳng vì danh lợi mà phỉ báng Phật đạo, cũng chẳng vì danh lợi mà lấy danh nghĩa Phật đạo che mắt thế gian như một thiểu số tăng nhân thiền tông thế luận và nho gia hủ lậu trong lịch sử Phật giáo để lại ngữ lục trong Cảnh-Đức Truyền Đăng-Lục và các tác phẩm thế luận khác cho đến ngày nay…


 
phật, tổ truyền đạo pháp 5 min



Mục Lục:
  1. Thay Lời Tựa
  2. Đức Phật Và Chư Tổ Truyền Đạo Pháp
  1. Đức Phật Truyền Đạo Pháp
  • Pháp Tứ Thiền
  • Pháp Thiền Nín Thở, Đại Kinh Sakuludayi
  • Pháp Nhập Tức Xuất Tức Niệm
  • Pháp Bốn Niệm Xứ
  • Pháp Bảy Giác Chi
  • Minh Giải Thoát
  • Học & Tu Nghĩa Pháp Trong Kinh Điển Phật
  • Bà-La-Môn, Ngoại Đạo Thọ Trì Phật Pháp
  • Tông Chủ Bà-La-Môn Các Phái Ngoại Đạo, Xin Luận Nghị Đức Phật
  • Tóm Lược Đức Phật Truyền Pháp Tiểu Thừa, Tam Tạng Kinh, Luật, A-Tỳ-Đàm
  • Đức Phật Thuyết Đại Thừa
  • Kinh Viên Giác
  • Đức Phật Thuyết Kinh Lăng Già
  • Kinh Thủ Lăng Nghiêm
  • Tóm Lược Đức Phật Thuyết Ba Kinh Đại Thừa
  1. Chư Tổ Truyền Đạo Pháp, Nối Pháp Từ Tổ Ca Diếp Đến Tổ Huệ Năng Ở Trung Hoa
  • Tổ Ca Diếp
  • Tổ Thứ Hai – Tôn Giả A Nan
  • Tổ Huệ Năng
  1. Quan Sát Đạo Pháp Ra Đời Lục Tổ Huệ Năng Ở Trung Hoa
  • Lẽ Hưng Suy
  • Ngữ Lục 20 Vị Sư Sau Đời Lục Tổ
  1. Quan Sát Đạo Pháp Tại Đại Việt
  • Các Thời Kỳ Hội Nhập Của Phật Giáo Đại Việt
  • Tiền Sử Người Việt Nam Và Miền Pháp Khí Lĩnh Nam, Giao Chỉ
  • Phật Giáo Du Nhập Việt Nam 200 Năm Trước Tây Lịch – Thế Kỷ 20
  • Du Nhập, Phát Triển Từ 200 Năm Trước Tây Lịch Đến Thế Kỷ Thứ 6 Sau Tây Lịch
  • Phật Pháp Việt Nam Từ Thế Kỷ Thứ 6 Đến 20 Tây Lịch
  • Tổng Lược Về Phật Pháp Ở Việt Nam Từ Đầu Thiên Niên Kỷ Tây Lịch Đến Thế Kỷ 20
  1. Tóm Lược Về Phật, Tổ Truyền Đạo Pháp

thông tin cuối bài viết 2
 
thông tin cuối bài viết 1
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây