TỬ THƯ TÂY TẠNG - GURU RINPOCHE TỬ THƯ TÂY TẠNG - GURU RINPOCHE Tác Giả: Guru Rinpoche
Dịch: Thiện Tri Thức
Nhà Xuất Bản: Hồng Đức 
Số Trang: 229 Trang
Bìa: Mềm - Có Tay Gập 
Khổ Sách: 12x20cm
Năm Xuất Bản: 2018
Độ Dày: 1,2cm
TTTT SÁCH GIÁO LÝ 90.000 đ Số lượng: 100 Quyển
  • TỬ THƯ TÂY TẠNG - GURU RINPOCHE

  •  172 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: TTTT
  • Giá bán: 90.000 đ

  • Tác Giả: Guru Rinpoche
    Dịch: Thiện Tri Thức
    Nhà Xuất Bản: Hồng Đức 
    Số Trang: 229 Trang
    Bìa: Mềm - Có Tay Gập 
    Khổ Sách: 12x20cm
    Năm Xuất Bản: 2018
    Độ Dày: 1,2cm


Số lượng
Hình Minh Họa
Linh Kiến Về Guru Rinpoche
Bức thangka này do Chögyam Trungpa Rinpoche sáng tác và soạn thảo dựa theo một thị kiến của Ngài về Guru Rinpoche. Guru Rinpoche được nhìn thấy trên một đám mây hướng về phía người quan sát. Tư thế của kim cang chữ trong tay phải của ngài đã xác định ngài hiện diện trong hình tướng được gọi là Guru Nangsid Zilnon (snang srid zil gnol), tức “vị guru chế ngự mọi hiện tượng hiển lộ và toàn thể hiện hữu”. Cách bố trí của thangka không tuân theo quy ước, trong đó thiếu vắng mọi các đặc điểm cảnh quan, và tầm nhìn được đặt lơ lửng giữa trời xanh. Tranh đầu sách.


 
tử thư tây tạng 1 min


Yantra Samantabhadra (Phổ Hiền)
Bức yantra này thuộc một dạng được biết ở Tây Tạng là tagdrol, có nghĩa “giải thoát bằng đeo, mặc”. Đeo mặc là một trong “sáu cách giải thoát” cùng với nghe, thấy, nhớ, chạm, nếm. Yantra này được đặt trên cơ thể người chết để thúc đẩy ông ta trong bardo pháp tánh (dharmatā). Hình tượng trung tâm, Samantabhadra (Phổ Hiền), là đức Phật pháp thân tối thắng và đại diện cho pháp tánh. Ngài được bao quanh bằng các mạn đà-la của chư thần bình yên, các vị Minh Trì và những vị thần xung nộ biểu hiện bằng mật chú (mantra) của họ. Vòng ngoài cùng là mật chú của chư Phật ở sáu cảnh giới. Trang 88

Pernagchen
Pernagchen, “Thần áo đen” (Đại Hắc), là một vị hộ pháp đặc biệt của phái Karma Kagyü ở Tây Tạng. Dòng Karma Kagyü kế thừa Pernagchen từ gia đình Karma Pakshi, đức Gyalwa Karmapa đệ nhị, mà thân phụ của ngài là một tu sĩ mật giáo. Pernagchen, với phân nửa thân thể là đầu và phân nửa đầu ngài là miệng, đã được xuất hiện lặp đi lặp lại trong các linh ảnh trong vai trò là người thủ hộ của dòng Karma Kagyi. Lưỡi dao hình vầng trăng khuyết trong tay ngài dùng để hủy diệt những kẻ suy đồi phá hoại giáo pháp. Chiếc tách sọ người của ngài chứa đựng sự phong nhiêu thịnh vượng, cả tinh thần và vật chất, dành cho người tu tập. Glen Eddy vẽ. Trang 237


 
tử thư tây tạng 2 min



Lời Nói Đầu
Bardo Thötröl (Bar-do’i-thos-grol) là một trong một loạt các bộ giáo huấn chỉ dẫn sáu cách để giải thoát: giải thoát thông qua sự nghe; giải thoát thông qua đeo, mặc; giải thoát thông qua sự thấy; giải thoát thông qua nhớ tưởng; giải thoát thông qua nếm vị; giải thoát thông qua xúc chạm. Bộ giáo huấn này do ngài Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) chỉ giáo và người phối ngẫu [tâm linh] của ngài là Yeshe Tsogyal ghi lại, cùng với nghi thức hành trì (sādhana) về hai mạn-đà-la (mandala) của bốn mươi hai vị hộ thần bình yên (peaceful deity) và năm mươi tám vị hộ thần xung nộ (wrathful deity). Ngài Padmasambhava đã chôn giấu các bộ giáo huấn này trong vùng đồi Gampo ở miền trung Tây Tạng, nơi mà về sau đại sư Gampopa xây ở đó một tu viện.

Nhiều bộ giáo huấn khác cùng những vật thiêng liêng cũng được cất giấu như vậy ở nhiều nơi khác nhau trên khắp lãnh thổ Tây Tạng; người ta gọi các bộ giáo huấn đó và các vật thiêng liêng được cất giấu là terma. Ngài Padmasambhava đã truyền oai lực cho hai mươi lăm đại đệ tử để khám phá các nơi chôn giấu các terma này. Về sau, ngài Karma Lingpa, vị tái sanh của một trong các vị đại đệ tử đó, đã tìm ra nơi chôn cất bộ giáo huấn Bardo này. Theo tông chỉ, giải thoát có nghĩa rằng bất kỳ ai khi tiếp cận được bộ giáo huấn nói trên, dù đó là người hoài nghi hay là người có tâm rộng mở, đều sẽ nhận được một thoáng giác ngộ thông qua oai lực trao truyền được chứa đựng trong các kho báu đó.


 
tử thư tây tạng 3


Ngài Karma Lingpa thuộc truyền thống Nyingma nhưng tất cả học trò của ngài đều thuộc dòng Kagyi. Ngài thực hiện sự trao truyền sáu bộ giáo huấn giải thoát này lần đầu tiên cho Dödül Dorje, vị Karmapa đời thứ mười ba, đến lượt ngài Dödül Dorje truyền lại cho Gyurme Tenphel, vị Trungpa đời thứ tám. Sự truyền thừa vẫn tiếp tục duy trì trong các tự viện Surmang của dòng Trungpa, và từ đó truyền ngược vào truyền thống Nyingma. Người tu tập bộ giáo huấn này thực hành sādhana và nghiên cứu bộ giáo huấn sao cho hai mạn-đà-la hoàn toàn trở nên quen thuộc nằm lòng như một phần kinh nghiệm riêng của mình.

Tôi nhận được truyền thừa này vào năm lên tám tuổi, các vị giáo thọ của tôi đã dạy tôi bộ giáo huấn này, các ngài cũng đã hướng dẫn tôi cách thức xử sự với người đang chết. Bởi thế, tôi đã thăm viếng những người đang chết hay đã chết, khoảng bốn lần một tuần. Đối với ai tu theo truyền thống này, việc thường xuyên tiếp cận để chứng kiến tiến trình của cái chết, đặc biệt là cái chết của người thân hay bạn bè, được coi là hết sức quan trọng, để sao cho ý niệm vô thường trở thành kinh nghiệm sống động hơn là một quan điểm triết lí. Quyển sách này nhằm ý định xa hơn, đó là để các hành giả Tây phương có thể áp dụng được giáo lí này. Tôi hi vọng trong tương lai không xa, các nghi thức hành trì cũng có thể được dịch, để truyền thống này được tu tập một cách đầy đủ trọn vẹn.
CHÖGYAM TRUNGPA, Rinpoche


 
tử thư tây tạng 4 min


Lời Giới Thiệu
Thật tình cờ, lời giới thiệu này đã được viết tại tu viện Rumtek ở Sikkim, nhìn qua bên kia thung lũng là vùng Gangtok, nơi mà nửa thế kỷ trước, ngài Kazi Dawa Samdup đã dịch và ông W. Y. Evans Wentz xuất bản bộ Bardo Thötröl này lần đầu tiên bằng tiếng Anh. Còn có một mối liên hệ nữa, đó là bản dịch này được thực hiện với một phần ý muốn của tôi, dành để đề tặng cho ông Evans Wentz. Người ta có thể hỏi rằng, tại sao cần phải có một văn bản mới khi mà bản dịch của ngài Samdup và Evans Wentz đã được phổ biến rộng rãi và khiến rất nhiều người quan tâm đến đạo Phật. Trong bài giới thiệu của mình, ông Evans Wentz đã tự trả lời một phần nghi vấn đó, ông thừa nhận “tính chất tiên phong của tác phẩm”.

Từ đó trở đi, và đặc biệt sau khi những vị lạt- ma cao cấp nhất đã rời Tây Tạng, các thông tin cũng như sự quan tâm của thế giới về Phật giáo Tây Tạng đã gia tăng đáng kể. Giờ đây, đạo Phật Tây Tạng không còn đơn thuần là một đề tài nghiên cứu mang tính học thuật, mà là một truyền thống sinh động đã bắt rễ vào Tây phương. Điều này tạo nên khả năng về một cách tiếp tiếp cận mới đối với bản dịch, ở đó điều hết sức quan trọng là đem lại sự ứng dụng thiết thực từ văn bản, và chuyển tải được tinh thần trực tiếp, sống động của nó. Vào mùa hè năm 1971, tại Cộng đồng tu tập Tail of Tiger ở Vermont (nay được gọi là Karme-Chöling), Chögyam Trungpa Rinpoche đã trình bày bài thuyết giảng đề tài “Tử thư Tây Tạng”, bài thuyết giảng đó có trong sách này ở phần luận giải.


 
tử thư tây tạng 5



Trong suốt giờ hội thảo, ngài dùng bộ luận bằng tiếng Tây Tạng, trong khi khán thính giả lại dựa theo ấn bản của Evans Wentz. Điều này đã làm nảy sinh các vấn đề khác biệt về dịch thuật và cách diễn đạt, chính vì thế, chúng tôi đi đến quyết định nên chuẩn bị một bản dịch mới. Để dịch văn bản này chúng tôi dựa vào ấn bản tiếng Tây Tạng do E. Kalsang ấn hành (Varanasi, 1969) cùng với ba bản khắc in. Một vài chỗ sai hay sơ sót nhỏ đã được sửa chữa bằng cách tham khảo các bản khắc, nhưng giữa bốn văn bản này không có những khác biệt căn bản nào đáng kể. Vì vậy, thật đáng ngạc nhiên khi thấy có sự chênh lệch đáng kể so với bản dịch trước đây. Không đi sâu vào chi tiết, có một vài điểm nổi bật cần được nêu ra.

Ngài Kazi Dawa-Samdup nhiều lần thay đổi từ tiếng Anh khác nhau từ một từ Tây Tạng nguyên gốc vì cho là có nhầm lẫn. Trong phần ghi chú, nhà xuất bản có trích dẫn các bộ luận được dùng bằng tiếng Tây Tạng – một văn bản chép tay và một văn bản khắc in – nhà xuất bản thường ghi chú rằng người dịch đã sửa một số từ mà bây giờ thấy không đúng. Đa số các từ tiếng Anh thay đổi để điều chỉnh đó dường như có dụng ý dung hòa những mâu thuẫn hệ thống các tương hợp của các vị thần, các màu tượng trưng, vân vân với các kinh sách khác. Sau đây là các thí dụ nổi bật (trích dẫn từ ấn bản phổ thông của Oxford University Press, 1960): Ở trang 95, ghi chú số 3, vị Kuntu-Zang-mo (Samantabhadrī) thân nữ lại đổi thành vị Kuntu-Zang-po (Samantabhadra) thân nam, vị này xuất hiện như thế hai lần.

Nhưng toàn bộ nội dung của đoạn luận này nhắm vào việc biểu tượng hóa sự hợp nhất các khía cạnh nam tính và nữ tính của tâm. Như ông Evans Wentz tự đề cập tới điều này trong cùng phần ghi chú đó và ở ghi chú số 3 ở trang kế tiếp, thật khó hiểu tại sao mà ông, hay là người dịch, có thể nhìn cho là có sai lầm về văn bản. Ở trang 106 và 109, chữ vật chất (matter, mà chúng tôi dịch là sắc thân, form) và chữ tâm thức-thần thức (consciousness) bị đảo ngược để làm sao cho “vật chất” xuất hiện ở ngày thứ nhất và “thần thức” xuất hiện ngày thứ hai; mặc dù trong bản khắc in, các chữ đó xuất hiện theo một cách khác. Tương tự, ở trang 108 và 111 các vị phối ngẫu Sangyay Chanma (Buddha-Locana) và Māmakī đã bị hoán đổi.

Ở trang 114, ngày thứ tư, ánh sáng của ngạ quỷ (preta) được mô tả là màu đỏ, và ở trang 117, ngày thứ năm, ánh sáng của a-tu-la (asura, các vị thần ganh tỵ) được mô tả bằng màu xanh lá; trong khi ở bản dịch này, ánh sáng của ngạ quỷ là vàng và của a-tu-la là màu đỏ. Các màu sắc của sáu cõi xuất hiện trở lại ở các trang 124 và 174, ở đó ông Evans Wentz ghi chú [đó là màu theo ý người Tây Tạng và ông giải thích rằng người dịch đã thay đổi để phù hợp với các màu của chư Phật. Tuy nhiên, hình tượng học Phật giáo không phải tuyệt đối nhất quán. Hiển nhiên, những sự bất thường xảy ra thường xuyên ở đây, luôn có hậu ý của nó. Trong tất cả những trường hợp này, bốn văn bản của chúng tôi phù hợp với bản khắc của Evans Wentz và phần lớn phù hợp với bản viết tay của ông ấy, vì vậy rất có thể rằng sự đồng nhất đó đã chứng tỏ là bản văn chính xác.

Một vài sự khác biệt nữa giữa hai bản dịch sẽ được tìm thấy trong cách xử lí các thuật ngữ đặc biệt của Phật giáo. Kinh điển nguyên thủy của đạo Phật được viết bằng tiếng Sanskrit hay Pāli và được dịch ra tiếng Tây Tạng từ thế kỷ thứ 7 trở đi. Vào thời kỳ đó, tiếng Tây Tạng chưa bị bất kỳ hệ thống tư tưởng phát triển cao nào ảnh hưởng, cho nên nó có thể thích nghi không nấy khó khăn. Vì thế, người ta đã tạo ra một ngôn ngữ triết học mới bằng tiếng Tây Tạng vào thời đó để chuyển tải giáo lí đạo Phật. Giờ đây khi dịch sang một ngôn ngữ của người Châu Âu ở thế kỷ hai mươi, chúng tôi ở trong một hoàn cảnh hoàn toàn khác.

Tư tưởng Tây phương đã phát triển theo những chiều hướng rất khác biệt với người Đông phương, nên nếu một từ tiếng Anh được chọn ra từ vốn từ vựng triết học hoặc tôn giáo thì chắc chắn nó sẽ bao hàm phần nào những sự liên hệ và các ngụ ý có thể hoàn toàn xa lạ với những dữ kiện cơ bản của đạo Phật. Ngược lại, không thể nào tìm thấy được bất kỳ một từ đơn tiếng Anh nào có đủ nghĩa tương ứng với một chữ Sanskrit. Trong những trường hợp này, người ta cần một cụm từ tiếng Anh tương đương để giải thích càng nhiều càng tốt nghĩa nguyên gốc, trong khi chữ Sanskrit có lợi điểm là không có những từ liên kết có thể làm sai lệch ý cho người đọc…


 
tử thư tây tạng 6 min



Mục Lục:
Hình Minh Họa
Lời Nói Đầu
Lời Giới Thiệu
Đại Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe Trong Bardo Bình Giảng
Bài Giảng Của Chogyam Trungpa, Rinpoche
Đại Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe Trong Bardo Chánh Văn
Những Cầu Nguyện
Cầu Nguyện Chư Phật Và Chư Bồ Tát Cứu Độ
Những Câu Kệ Chính Về Sáu Bardo
Cầu Nguyện Để Giải Thoát Khỏi Lối Đi Nguy Hiểm Của Bardo
Cầu Nguyện Trong Bardo Che Chở Khỏi Sợ Hãi
Bảng Chú Giải Các Từ Sankrit
Thư Mục Tham Khảo


 
thông tin cuối bài viết 2
 
thông tin cuối bài viết 1
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây