PHẬT MÔN NHỊ THỜI KHÓA TỤNG - HT THÍCH ĐỒNG BỔN PHẬT MÔN NHỊ THỜI KHÓA TỤNG - HT THÍCH ĐỒNG BỔN Chứng Minh: Tỳ Kheo Thích Đồng Bổn
Dịch: Nhựt Minh
NXB: Hồng Đức 
Số Trang: 501 Trang
Hình Thức: Bìa Mềm Có Tay Gập 
Khổ: 16x24cm
Năm XB: 2018
Độ Dày: 2,6cm
NTKT Kinh tụng 200.000 đ Số lượng: 1000000 Quyển
  • PHẬT MÔN NHỊ THỜI KHÓA TỤNG - HT THÍCH ĐỒNG BỔN

  •  475 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: NTKT
  • Giá bán: 200.000 đ

  • Chứng Minh: Tỳ Kheo Thích Đồng Bổn
    Dịch: Nhựt Minh
    NXB: Hồng Đức 
    Số Trang: 501 Trang
    Hình Thức: Bìa Mềm Có Tay Gập 
    Khổ: 16x24cm
    Năm XB: 2018
    Độ Dày: 2,6cm


Số lượng
Lời Nói Đầu
Chúng sanh từ vô thỉ đến nay, vì mê mờ bổn tâm nên chẳng thấy tự tánh tịch tĩnh, bổn nhiên thanh tịnh của Niết-bàn; lại phan duyên chấp thủ nơi thế pháp mà luân chuyển thọ thân trong sanh tử. Đức Thế Tôn Thích-ca Mâu-ni tự thân đã chứng thành Đạo quả, lại chẳng an trụ nơi tịch diệt, mà vì bổn hoài xuất thế, từ bi thuyết pháp độ hóa quần mê, mang sự bình đẳng đến với muôn loài, khiến cho đồng vào Niết-bàn giải thoát.


 
phật môn nhị thời khóa tụng


Ngày nay, thừa hưởng nền Giáo pháp tối thượng, như được diệu dược chữa lành tâm bệnh, như nước pháp Cam lộ trưởng dưỡng Pháp thân. Ở trong giáo pháp ấy nếu chẳng có chút thành tựu, tức là phụ ân đức của chư Phật trong ba đời.  Vậy, một Phật tử muốn báo ân Phật, không gì bằng tự thân tinh tấn hành trì giáo pháp. Lại thường nghe câu “Pháp nhược ma cường”, pháp Phật vốn là chân lý, siêu vượt không gian và thời gian nên chẳng thể gọi rằng nhược. Nên hiểu rằng “pháp nhược” chính là tâm pháp, là tự tánh Tam bảo, là năng giác trong mỗi chúng sanh bị yếu kém; “ma cường” chính là Ngũ ấm ma trong mỗi chúng sanh tăng thạnh.

Thế nên, chư hành giả tu hành trong thời Mạt pháp, nhất định phải nhờ sự gia trì, hộ niệm của Tam bảo. Lại muốn được vị chơn lạc của Niết-bàn, hành giả phải có Chánh định, và Chánh định phải từ nơi Chánh niệm mà sanh. Trong bốn mươi đề mục quán niệm, thì ba pháp quán niệm căn bản, dễ thực hành, lại sanh ra công đức lớn đó là: Niệm Phật, niệm Pháp và niệm Tăng. Trong đó, việc đọc tụng Kinh điển, hành trì Mật chú là những phương tiện giúp hành giả tăng trưởng công đức, phước báo.

Tất cả những Kinh, Chú trong Phật pháp đều mang đến lợi ích cho những ai đọc tụng hành trì, có công năng tiêu trừ nghiệp chướng, khai mở trí huệ Giác ngộ, đưa chúng sanh tới bờ giải thoát, thành tựu Phật quả vô thượng. Cho nên, dù Phật tử xuất gia hay tại gia, với tín tâm thanh tịnh đều có thể bình đẳng phát tâm trì tụng, không giới hạn phân biệt, tùy nơi tâm thanh tịnh sẽ thành tựu sở nguyện. Bởi chí nguyện hướng thượng, lòng mong cầu được an lạc, giải thoát mọi khổ đau, ra khỏi ràng buộc của luân hồi sanh tử … là chánh đáng và thiết yếu đối với nhân loại, cùng tất cả chúng sanh. Đó cũng là bổn nguyện và lòng từ bi vô hạn của đức Phật Thích-ca Mâu-ni khi chuyển bánh xe chánh Pháp trên cõi đời này. Và đọc tụng Kinh điển Phật pháp cũng là thực hiện công hạnh quay chuyển bánh xe Chánh pháp vậy!


 
phật môn nhị thời khóa tụng 1


Từ xưa đến nay, thông thường Phật giáo theo truyền thống Đại thừa  có ba nghi thức quan trọng chánh yếu, đó là: Nghi thức tụng Kinh, Nghi quỹ hành trì (còn gọi là Nghi quy) và Nghi lễ sám văn.
  • Nghi thức tụng Kinh là khóa lễ xướng tụng hay tuyên đọc lại lời dạy của đức Phật, thông qua các bản Kinh văn. Nghi thức tụng Kinh này thuộc về Hiển giáo.
  • Nghi quỹ hành trì là khóa lễ trì niệm và thực hành các bài pháp (thường là Mật chú) mà đức Phật đã dạy nói trong Kinh, bằng phương pháp hay quy tắc nhất định do chư Tổ sư soạn thuật, dựa trên các bản chánh Kinh tương ứng. Nghi quỹ hành trì thuộc về Mật giáo.
  • Nghi lễ sám văn là khóa lễ đọc tụng các bổn Sám văn. Phần lớn các Sám văn là do chư Tổ sư soạn thuật dựa trên ý nghĩa trong Kinh, làm phương tiện cho Phật tử phát lồ sám hối nghiệp tội trước Tam bảo.
Trong các pháp tu Đại thừa, dù với danh nghĩa thuộc dòng phái nào cũng không ngoài Phật thừa, con đường dẫn tới quả vị Phật, Chánh đẳng Chánh giác. Con đường này không ra ngoài Tam vô lậu học: lấy Giới, Định, Huệ làm cốt lõi. Mặt khác, việc thực hành Giới luật, Hiển giáo và Mật giáo là ba phương diện không thể tách rời. Vì tánh chất trọng yếu nói trên, khi hoằng pháp lợi sanh bên Đông độ, chư Tổ sư tại Chấn Đán đã tuyển chọn những bài Pháp trong Kinh tạng Đại thừa, để cho Tăng chúng trì niệm trong hai thời sớm tối. Trải qua bao đời hành trì và soạn tập đã hình thành nên bổn “Phật Môn Nhị thời khóa tụng”, trong đó bao hàm cả ba pháp quán niệm: Phật, Pháp, Tăng; lại phổ dụng khắp cả ba tông: Thiền, Tịnh, Mật. “Nhị thời khóa tụng” nghĩa là hai thời công phu trì tụng trong một ngày đêm, cụ thể bao gồm:
 
  1. Triêu thời khóa tụng:
“Triêu thời khóa tụng” thường gọi là “Thời công phu khuya”, trì tụng vào buổi sớm mai, khi mặt trời sắp mọc, gồm các Chân ngôn sau:
  • Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Thần Chú
  • Đại Bi Thần Chú
  • Thập Tiểu Chú, gồm có 10 bài Chú sau:
 
  1.  Như Ý Bảo Luân Vương Đà-la-ni
  2. Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú
  3. Công Đức Bảo Sơn Thần Chú
  4. Chuẩn-đề Thần Chú
  5. Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà-la-ni
  6. Dược Sư Quán Đảnh Chân Ngôn
  7. Quán Âm Linh Cảm Chân Ngôn
  8. Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn
  9. Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú
  10. Thiện Nữ Thiên Chú. (Đại Cát Tường Thiên Nữ Chú)
 
  • Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh.
 
phật môn nhị thời khóa tụng 2

 
  1. Mộ Thời Khóa Tụng:
“Mộ thời khóa tụng” thường gọi là “Thời công phu chiều”, trì tụng vào buổi chiều tối, khi mặt trời sắp lặn, gồm các bổn sau:
  • Phật Thuyết A-di-đà Kinh.
  • Lễ Phật Đại Sám Hối Văn (Hồng Danh Bảo Sám).
  • Mông Sơn Thí Thực Nghi.
  • Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh.

Về Ý Nghĩa Của Hai Thời Khóa Tụng:
Thời công phu sáng thuộc về Mật tông. Hành giả dùng phương tiện là các Chân ngôn để giữ lấy Chánh niệm. Ngoài ra, nương nơi oai lực của Chú ngữ, hành giả có thể gột rửa những tập khí, tiêu trừ các kiết sử phiền não trong tâm thức; trưởng dưỡng tâm từ bi; thành tựu thắng ý thanh tịnh, tăng trưởng mọi công đức pháp lành; bạt trừ các kiếp nạn và chướng duyên; tiêu trừ tội lỗi cùng báo chướng; hiện tiền giải thoát bệnh khổ của thân tâm, tăng trưởng thọ mạng, sau cùng là được thọ ký vãng sanh Tịnh độ. Ở thời công phu sáng, Bổn tôn để hành giả nương về là đức Thích-ca Mâu-ni Phật. Tông chỉ là “Tam mật tương ưng”, nghĩa là Thân mật, Ngữ mật và Ý mật được hợp nhất thành một thể thanh tịnh, tương ưng với ba thân Phật.

Cứu cánh là “Tức thân thành Phật”, nghĩa là ngay nơi nhục thân cha mẹ sanh ra đây, có thể siêu phàm nhập thánh (vượt khỏi địa vị phàm phu, nhập vào dòng Thánh chúng), tiến vào Thập địa của hàng Bồ tát cho đến cuối cùng là Phật địa. Mở đầu chú Thủ Lăng Nghiêm, trong kệ tụng của ngài A-nan có câu “Bất lịch tăng-kỳ hoạch Pháp thân” chính là ý này vậy.


 
phật môn nhị thời khóa tụng 3


Thời công phu chiều thuộc về Tịnh tông. Trì tụng bổn “Phật Thuyết A-di-đà Kinh”, để sau một ngày tu tập hành giả chuyên tâm nhất niệm, đem mọi thiện căn hồi hướng về cõi Tịnh độ Cực Lạc của đức Phật A-di-đà. Lễ tụng bổ “Lễ Phật Đại Sám Hối Văn”, để hành giả quán soi lại hành nghiệp của thân, ngữ, ý; đồng thời sám hối những lỗi lầm và khuyết phạm Giới cấm (nếu có) sau những ngày tu tập. Chư vị Tổ sư cõi Chân Đán khi soạn khóa bổn, có lời ghi chú rằng: Vào những ngày lẻ trong tháng như mồng 1,3,5 … thời tụng A-di-đà Kinh, vào những ngày chẵn trong tháng như mồng 2,4,6 … thời lễ Sám Hối Văn. Tuy nhiên, theo thông lệ của các tự viện tại Việt Nam, thường Phật tử chỉ lễ Sám văn vào hai ngày trong tháng là 14 và 29, rồi qua ngày 15 và 30 làm lễ Bố tát….

 
phật môn nhị thời khóa tụng 4


MỤC LỤC:
Lời Nói Đầu
Lời Dẫn Về Sự Tụng Kinh  - Trì Chú – Niệm Phật
Thời Công Phu Sáng (Âm)
Thời Công Phu Sáng (Nghĩa)
Thời Công Phu Chiều (Âm)
  • Nghi Thức Khai Kinh
  • Phật Thuyết A-Di-Đà Kinh
  • Lễ Phật Đại Sám Hối Văn
  • Mông Sơn Thí Thực Nghi
  • Nghi Thức Niệm Phật Hồi Hướng
Thời Công Phu Chiều (Nghĩa)
  • Nghi Thức Khai Kinh
  • Phật Nói Kinh A-Di-Đà
  • Lễ Phật Đại Sám Hối Văn
  • Mông Sơn Thì Thực Nghi
  • Nghi Thức Niệm Phật Hồi Hướng
Khóa Tụng Khuyến Phát Bồ-Đề Tâm
Thuyết Minh Công Đức Và Năng Lực Diệu Tụng Của Các Bổn Thần Chú Chánh Yếu Trong Khóa Tụng:
  1. Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Thần Chú
  2. Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà-La-Ni
  3. Như Ý Bảo Luân Vương Đà-La-Ni
  4. Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú
  5. Công Đức Bảo Sơn Thần Chú
  6. Chuẩn-Đề Thần Chú
  7. Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà-La-Ni
  8. Dược Sư Quán Đảnh Chân Ngôn
  9. Quán Âm Linh Cảm Chân Ngôn
  10. Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn
  11. Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú
  12. Thiện Nữ Thiên Chú
  13. Đại Bảo Quảng Bác Lâu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà-La-Ni
  14. Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa Tâm Kinh
Di Sơn Phát Nguyện Văn


 
thông tin cuối bài viết
 
thông tin new 2
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây