BỘ NHẬN THỨC PHẬT GIÁO & TỊNH TÔNG NHẬP MÔN - PHÁP SƯ TỊNH KHÔNG BỘ NHẬN THỨC PHẬT GIÁO & TỊNH TÔNG NHẬP MÔN - PHÁP SƯ TỊNH KHÔNG Giảng: Pháp Sư Tịnh Không
Dịch: Pháp Âm Tuyên Lưu
Nhà Xuất Bản: Hồng Đức
Bìa: Mềm – Có Tay Gập
Chất Giấy: Mịn, Đẹp
Trọn Bộ: 2 Quyển
Khổ Sách: 13,5x20,5cm
Năm Xuất Bản: 2021
Độ Dày: 3cm
NTTT HT TỊNH KHÔNG 250.000 đ Số lượng: 6 Bộ
  • BỘ NHẬN THỨC PHẬT GIÁO & TỊNH TÔNG NHẬP MÔN - PHÁP SƯ TỊNH KHÔNG

  •  259 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: NTTT
  • Giá bán: 250.000 đ

  • Giảng: Pháp Sư Tịnh Không
    Dịch: Pháp Âm Tuyên Lưu
    Nhà Xuất Bản: Hồng Đức
    Bìa: Mềm – Có Tay Gập
    Chất Giấy: Mịn, Đẹp
    Trọn Bộ: 2 Quyển
    Khổ Sách: 13,5x20,5cm
    Năm Xuất Bản: 2021
    Độ Dày: 3cm


Số lượng
Lời Nói Đầu
Nhận Thức Phật Giáo & Tịnh Tông Nhập Môn thực sự rất quan trọng đối với người mới bắt đầu tu học. Có rất nhiều đồng tu có quan niệm sai lầm về Phật giáo. Vì vậy, chúng ta phải in ấn và lưu thông rộng rãi quyển sách này, để giúp cho người tu học xây dựng được quan niệm đúng đắn về Phật giáo. Tuy nhiên, vài lời không thể nói đủ hết ý nghĩa, nhưng với sự phát tâm và cúng dường chân thành, chúng tôi hy vọng các đồng tu hữu duyên đều có thể hoan hỷ, đồng thời đạt được thọ dụng và lợi ích chân thận của Phật pháp!


 
nhận thức phật giáo & tịnh tông nhập môn 1 min


Trích “Nhận Thức Phật Giáo – Duyên Khởi”:
Chư vị đồng tu, xin chào mọi người! Hôm nay là ngày đầu năm mới, chúng ta có thể ở Úc Châu, tụ hội về nơi đây cùng mọi người thảo luận Phật pháp, tôi cảm thấy rất vui, nhân duyên thật sự thù thắng không gì bằng. Đề tài giảng giải lần này, chúng tôi chọn là “Nhận Thức Phật Giáo”. Đề tài này trước kia ở San Francisco có một nơi gọi là miếu Bà Thiên Hậu, miếu này là từ Đài Loan phân nhánh sang nước Mỹ. Khi miếu Bà Thiên Hậu mời tôi đến diễn giảng thì tôi liền nghĩ ngay đến đề tài này, đồng thời cũng viết ra một đại cương như vậy. Nhưng lúc đó thời gian chỉ có một tiếng rưỡi đồng hồ, không thể nào giới thiệu tường tận được.

Sau này vào năm 1992, trong buổi phỏng vấn ở thành phố Miami thuộc miền Đông nước Mỹ, lúc đó ở mỗi một thành phố tôi đều giới thiệu với mọi người đại ý kinh Địa Tạng. Sau khi đến Miami, cư sĩ Tăng Hiến Vĩ, sau này ông cũng xuất gia rồi, tiếng Anh của ông rất tốt, năng lực phiên dịch rất giỏi; lúc bấy giờ cũng có một số người nước ngoài đến nghe, tôi xem thấy tình hình của hội trường khi đó liền đem đề tài giảng sửa đổi trở lại, không còn giới thiệu kinh Địa Tạng nữa mà chuyển thành giới thiệu Nhận Thức Phật Giáo. Tôi còn nhớ thính chúng ở Miami so với hội trường hiện tại của chúng ta ít hơn một nửa. Nhưng ảnh hưởng của tuần diễn giảng đó là vô cùng lớn, những băng thu âm này về sau được viết thành sách, lưu thông phổ biến trên toàn thế giới, số lượng in ấn cũng rất nhiều, tôi nghĩ quý vị cũng đã xem qua.

Lần này tôi hoằng pháp ở Singapore, các đồng tu Singapore gần đây muốn đem những băng thu âm này làm thành đĩa CD để thuận tiện cho việc lưu giữ. Mọi người đến nói với tôi rằng: Nhận Thức Phật Giáo, quyển sách nhỏ này rất quan trọng, đáng tiếc là chưa có băng thu hình, nếu như có thể thu hình làm thành đĩa DVD thì đó là việc lý tưởng nhất. Thế nên lần này, chúng tôi có cơ duyên đến nơi đây sẽ thành toàn nguyện vọng của họ. Lần này chúng tôi sẽ ghi hình làm một bộ đĩa thật tốt, tương lai có thể lưu thông khắp nơi. Đây là nói sơ qua một chút cho quý vị biết về nhân duyên này.

[Nói đến việc] học Phật, ngày nay chúng ta ở rất nhiều địa phương, khu vực, quốc gia nhìn thấy người học Phật càng ngày càng nhiều, nhưng rốt cuộc Phật pháp là gì? Người thật sự có thể nói được rõ ràng, làm cho sáng tỏ thực sự không nhiều. Do đó, đề mục này đích thực là vô cùng quan trọng. Trước đây ở Trung Quốc, vào những năm đầu dân quốc, hình như là năm dân quốc thứ 12, khi đó có một vị tiên sinh tên là Âu Dương Cánh Vô, tôi nghĩ những người có hiểu biết đôi chút đối với Phật giáo thời cận đại của Trung Quốc đều biết Đại sư Âu Dương. Ông đã từng ở trường Đại học Trung Sơn Đệ Tứ tổ chức một buổi diễn giảng, đề mục của ông là: “Phật pháp không phải là tôn giáo, không phải là triết học, mà là điều người thời nay không thể thiếu”.

Lần diễn giảng ấy quả thật đã làm chấn động cả giới Phật giáo Trung Quốc. Bởi vì thông thường mọi người đều xem Phật giáo là tôn giáo. Vì sao Phật giáo không phải là tôn giáo? Trong giới học thuật, đặc biệt là giới học thuật Nhật Bản đã xem Phật giáo thành triết học, Đại sư Âu Dương nói Phật giáo cũng không phải triết học. Nhưng rốt cuộc Phật giáo là gì thì ông ấy không nói. Ông chỉ nói, “là điều mà người thời nay không thể thiếu”, chính là điều mà người thời nay nhất định phải học tập. Lần diễn giảng này, do học trò của ông là cư sĩ Vương Ân Dương ghi chép lại và lưu thông, cũng rất nổi tiếng vào những năm đầu Dân Quốc. Vào năm 1977, tôi ở thư viện Phật Giáo Trung Hoa Hồng Kông xem thấy bản chép của buổi diễn giảng này, sau đó tôi mang đến Đài Loan in lại, cũng đã lưu thông không ít. Sau khi chúng tôi đọc xong quyển sách nhỏ này cảm thấy quan điểm của ông rất chính xác.

Vậy thì Phật giáo rốt cuộc là gì? Chúng ta nhất định phải đem nó nhận thức cho rõ ràng. “Phật giáo là giáo dục, đích thật là giáo dục chí thiện viên mãn của đức Phật Thích-ca Mâu-ni đối với chúng sanh trong chín pháp giới”. Từ những chỗ nào chúng ta có thể thấy ra được? Trước tiên là từ trong cách thức xưng hô của Phật giáo chúng ta có thể thấy ra được. Bạn xem, chúng ta xưng đức Phật Thích-ca Mâu-ni là “Bổn sư”, sư là thầy giáo, Bổn sư chính là vị thầy căn bản, dùng lời hiện nay mà nói thì chính là người sáng lập ra giáo học này, ngài là vị thầy đầu tiên. Còn chúng ta tự xưng là “đệ tử”, đệ tử là học trò. Cho nên, từ trên cách xưng hô thấy được rất rõ ràng, chúng ta cùng với Phật là quan hệ thầy trò. Trong tôn giáo không có cách xưng hô này, trong tôn giáo là quan hệ chủ tớ, quan hệ cha con, quan hệ thần với người.


 
nhận thức phật giáo & tịnh tông nhập môn 2 min


Loại quan hệ như vậy ở trong nhà Phật không có, đây là điều mà chúng ta nhất định phải nhận thức rõ ràng. Người sáng lập ra Phật giáo là đức Phật Thích-ca Mâu-ni, về lịch sử của ngài thì chúng ta ở nơi đây không cần phải mất thời gian giới thiệu, trong sử truyện chúng ta cũng có thể xem thấy được. Ngài sinh ra ở bắc Ấn Độ, ngày nay là Nepal, phía nam núi Himalaya. Ngài sinh vào năm Giáp Dần, Chu Chiêu Vương năm thứ 26 của Trung Quốc, Phật diệt độ vào thời Chu Mục Vương năm thứ 53, đây là được ghi chép trong lịch sử Trung Quốc. Nhưng về niên đại của Phật thì Trung Quốc và ngoại quốc ghi chép có sự khác biệt rất lớn, nếu căn cứ theo ghi chép này thì sau khi Phật diệt độ đến nay đáng lẽ là 3021 năm. Nhưng theo ghi chép của người ngoại quốc thì năm nay mới chỉ hơn 2500 năm, khác biệt nhau gần 600 năm.

Sự việc này không chỉ riêng Phật-đà, phàm là khảo chứng niên đại năm sinh, năm mất của người xưa, hầu như đều có rất nhiều cách nói khác nhau, rốt cuộc cách nói nào mới chính xác? Vấn đề này rất khó đoán định, cũng có thể nói là không có cách gì để xác định. Nhưng mà những việc này thật ra mà nói cũng chẳng phải quan trọng lắm, chúng ta không làm công tác khảo cổ cho nên việc này không quan trọng, quan trọng là chúng ta phải hiểu rõ giáo nghĩa của đức Phật. Đức Phật Thích-ca Mâu-ni thật sự là nhân vật có thật, năm xưa ngài giảng kinh thuyết pháp chân thật đã lưu lại rất nhiều kinh điển, việc này đáng được chúng ta khẳng định.

Phật giáo chính thức truyền đến Trung Quốc là vào năm Vĩnh Bình thứ 10 thời Hậu Hán (công nguyên năm 67), đây là chính thức được triều đình Trung Quốc tiếp nhận, cũng chính là đế vương Trung Quốc phái đặc sứ đi thỉnh mời đến Trung Quốc. Việc Phật giáo chưa chính thức truyền đến Trung Quốc trong lịch sử cũng có ghi chép lại, đại khái lúc đó là vào thời Xuân Thu Chiến Quốc đã có tin tức Phật giáo truyền đến Trung Quốc. Nhưng chúng ta từ trên lịch sử mà nói, vẫn là lấy năm quốc gia chính thức thỉnh mời để ghi chép lại.

Phật giáo là gì? Chúng ta y theo cương lĩnh này mà nói, Phật giáo là giáo dục của Phật-đà. Phật-đà là dịch âm từ tiếng Phạn của Ấn Độ, ý nghĩa của nó là trí tuệ, là giác ngộ. Vì sao năm xưa lúc phiên dịch lại không dịch từ này thành Trí Giác? Nếu dịch thành Trí Giác thì ngày nay chúng ta xem đến danh từ này liền sẽ hiểu được, không đến nỗi mơ hồ. Vì sao lại không dịch như vậy? Đây là thể lệ trong phiên dịch kinh điển của thời xưa, có năm loại không dịch gọi là “ngũ bất phiên”. Thuộc về một trong năm loại không dịch, điều này là thuộc về “hàm nghĩa nhiều nên không dịch”, ý nghĩa bao hàm trong danh từ này quá nhiều, trong từ vựng Trung Quốc không tìm ra được một từ tương đương để phiên dịch, cho nên liền dùng dịch âm, sau đó thêm vào phần giải thích.

“Trí” mà trong chữ Phật-đà này nói cùng với trí tuệ trong khái niệm thông thường của chúng ta là không giống nhau, do đó nhất định phải thêm phần giải thích. Trí tuệ của Phật-đà, nếu như nói một cách khái quát thì chính là đối với vũ trụ nhân sinh, quá khứ vị lai, hết thảy các pháp ngài đều hiểu rõ, mà còn hiểu một cách chính xác, hiểu một cách viên mãn rốt ráo, trí tuệ như vậy mới gọi là Phật-đà. Chúng ta sau khi nghe cách nói này, người mới nghe qua quả thật là rất khó tiếp nhận! Điểm này có một chút giống như trong tôn giáo gọi Thượng đế là “toàn tri toàn năng”.

Con người sao có thể là toàn tri toàn năng cho được? Thế nhưng đức Phật Thích-ca nói cho chúng ta biết, hết thảy chúng sanh, bao gồm cả bản thân chúng ta trong đó, thật sự đều có trí tuệ này, đều có năng lực này. Do đó, Phật pháp đối với hết thảy chúng sanh đều có cách nhìn bình đẳng, vốn dĩ là bình đẳng. Phật không cao hơn chúng ta một bậc, chúng ta cũng chẳng thấp hơn Phật một bậc, đều là bình đẳng. Tuy là bình đẳng nhưng năng lực, trí tuệ của chúng ta hiện nay thật sự là có khác nhau.


 
nhận thức phật giáo & tịnh tông nhập môn 3


Ở trong xã hội này có người thông minh, cũng có người ngu si, có người năng lực rất giỏi, cũng có người năng lực rất yếu kém. Vì sao lại sinh ra hiện tượng này? Phật bảo với chúng ta, đây là vì bạn đã mê mất bản năng của mình. Bạn vốn dĩ có trí tuệ, trí tuệ cứu cánh viên mãn, nhưng bạn mê mất rồi. Mê mất, chẳng phải là mất thật sự, chỉ là mê mà thôi. Nếu như có thể phá trừ mê hoặc thì năng lực của bạn sẽ khôi phục trở lại. Thế nên, Phật dạy cho chúng ta không có gì khác, chính là bảo chúng ta đem mê hoặc điên đảo trừ bỏ đi, khôi phục lại bản năng của chúng ta mà thôi. Cho nên nói “Phật độ chúng sanh”, trên kinh Đại thừa thường nói “Phật đâu có độ chúng sanh!”, Phật không hề độ chúng sanh. Chúng sanh làm thế nào thành Phật? Là chính bạn tự thành Phật, Phật chỉ ở giữa giúp đỡ bạn, sự giúp đỡ này là xem bạn mê như thế nào, đem những chân tướng sự thật này nói ra cho bạn biết, sau khi nghe xong bạn liền giác ngộ, rồi sau đó bạn đem mê hoặc của mình buông bỏ thì bạn sẽ thành Phật.

Từ chỗ này xem thấy, Phật pháp đích thực là sư đạo, thầy giáo chỉ có thể dạy bảo chúng ta, còn thành tựu của học trò thì suy cho cùng vẫn phải do chính bản thân học trò nỗ lực phấn đấu mới có thể thành tựu, ở phương diện này thầy giáo không thể giúp đỡ gì được. Điều mà thầy giáo có thể giúp đỡ chỉ là đem những lý luận này nói rõ ràng, đem phương pháp, kinh nghiệm tu học chứng quả của chính mình cung cấp cho chúng ta làm tham khảo mà thôi. Thế nên, trong Phật pháp không có mê tín, điều này trước tiên chúng ta phải đem nó nhận thức cho rõ ràng, phải đem quan niệm này sửa đổi trở lại. “Phật pháp là giáo dục, Phật pháp là sư đạo”, chúng ta phải xem Phật là thầy giáo.

Ngày nay chúng ta xây dựng đạo tràng, chúng ta cúng tượng Phật, không phải đã xem Phật như thần linh rồi sao! Nếu xem Phật, Bồ-tát giống như thần linh để cầu cúng thì đó là tôn giáo. Thế nên, ngày nay chúng ta gọi Phật giáo là tôn giáo, thực tế mà nói cũng không thể nào phủ nhận được, vì sao vậy? Phật giáo đích thực đã biến thành tôn giáo rồi, đây là việc rất bất hạnh. Bạn xem người học Phật rất nhiều, có mấy ai không xem Phật, Bồ-tát như thần linh để cầu cúng, xem như thần linh để cúng bái, đây là việc sai lầm rất lớn, đã sai từ rất lâu rồi. Người sáng tỏ biết được, chúng ta cúng dường hình tượng Phật là có hai ý nghĩa:

– Ý nghĩa thứ nhất là báo ân, ý nghĩa kỷ niệm. Giáo dục tốt như vậy, chúng ta có thể gặp được, có thể tiếp nhận ngay trong đời này thật sự là quá may mắn! Kệ khai kinh thường nói: “Trăm ngàn muôn kiếp khó gặp được”, điều này một chút cũng không giả. Chúng ta cảm ân đội đức đối với thầy, kỉ niệm thầy, cũng giống như người Trung Quốc chúng ta cúng dường bài vị tổ tiên vậy, đây là “uống nước nhớ nguồn”, chúng ta có ân tình sâu dày như vậy ở bên trong.

– Ý nghĩa thứ hai là thấy người hiền muốn noi theo. Nghĩ thử xem, đức Phật Thích-ca Mâu-ni cũng là người bình thường, ngài có thể giác ngộ, ngài có thể thành tựu, vì sao ta không giác ngộ? Vì sao ta không thành tựu? Cho nên, tôn tượng này đặt ở nơi đó là thời thời khắc khắc nhắc nhở chính chúng ta, là ý nghĩa này, tuyệt đối chẳng phải mê tín! Không phải xem tượng Phật, Bồ-tát như thần linh để cầu cúng. Trong Phật giáo, hình tượng Phật, Bồ-tát có rất nhiều, cho nên có một số người cho rằng Phật giáo không những là tôn giáo, mà còn là tôn giáo cấp thấp, tôn giáo cấp thấp chính là “đa thần giáo, phiếm thần giáo”. Tôn giáo cấp cao chỉ có một vị thần, chỉ có một chân thần, thần của Phật giáo thì quá nhiều quá nhiều rồi, mấy nghìn mấy vạn, cho nên Phật giáo không những biến thành tôn giáo, mà còn biến thành tôn giáo cấp thấp. Kỳ thật điều này hoàn toàn bị người ta hiểu lầm.

Trong Phật pháp, danh hiệu của Phật đích thực là rất nhiều. Bạn xem đức Phật giảng kinh Vạn Phật Danh cho chúng ta, trong Đại Tạng Kinh có một bộ kinh gọi là kinh Vạn Phật Danh. Thế Tôn kể ra cho chúng ta khoảng hơn 12.000 danh hiệu Phật, còn danh hiệu của Bồ-tát thì càng nhiều hơn nữa. Vì sao lại có nhiều Phật, nhiều Bồ-tát đến như vậy? Quý vị nhất định phải biết một sự thật, đó là trí tuệ trong bổn tánh của chính chúng ta là vô lượng vô biên, đức năng tài nghệ cũng là vô lượng vô biên, một danh hiệu thì không có cách nào để biểu đạt hết. Giống như trong xã hội hiện nay, một người có địa vị, có tài năng, một khi danh thiếp của họ lấy ra thì có đến mười mấy, hai mươi mấy loại chức danh. Một chức danh thì được rồi, tại sao họ phải đặt ra nhiều loại như vậy? Danh hiệu đó của đức Phật Thích-ca Mâu-ni nêu ra có đến mấy vạn danh hiệu! Biểu thị vô lượng vô biên đức năng của ngài, ý nghĩa là như vậy. Tất cả danh hiệu của chư Phật là biểu thị cho đức năng vốn có đầy đủ trong bổn tánh của chúng ta. Vì vậy, hết thảy các danh hiệu Phật chính là bản thân bạn, không phải người khác, phải hiểu được điều này.


 
nhận thức phật giáo & tịnh tông nhập môn 4 min


Hết thảy danh hiệu Bồ-tát biểu thị cho tu đức của chúng ta, bản năng trong tự tánh của chúng ta là vô lượng vô biên, nhưng nếu không cố gắng tu tập, năng lực đó của chúng ta một thứ cũng không thể hiển lộ, cho nên nhất định phải nỗ lực tu tập. “Danh hiệu của Bồ-tát đại biểu cho tu đức, danh hiệu của Phật đại biểu cho tánh đức”, hoàn toàn là chính mình, ngoại trừ mình ra quyết định không có người thứ hai. Bạn phải hiểu rõ ý nghĩa này thì bạn mới biết được phương thức giáo học của Phật pháp, nếu dùng lời hiện nay để nói, đây là đã đạt tới nghệ thuật hóa cao độ. Phật giáo không chỉ có danh hiệu, mà còn dùng những hình tượng điêu khắc, đắp nặn để làm biểu pháp, bạn nhất định phải hiểu rõ hàm nghĩa chân thật của việc ấy; thật sự sáng tỏ rồi, bạn mới đạt được lợi ích chân thật của giáo học Phật pháp, đây là điều đầu tiên chúng ta cần phải biết.

Phật pháp truyền đến đời sau, Phật-đà không còn ở đời, đệ tử Phật đem lời giáo huấn của thầy đời đời tương truyền lại. Trong nhà Phật chúng ta thường nghe đến cách xưng hô “hòa thượng” và “A-xà-lê”. A-xà-lê, người Trung Quốc chúng ta quen gọi là “pháp sư”. Những danh xưng này trong tôn giáo không có. Hòa thượng và A-xà-lê đều là âm tiếng Phạn của Ấn Độ, ý nghĩa của hòa thượng là thân giáo sư, nếu dùng lời hiện nay mà nói thì chính là vị thầy đích thân dạy bảo chúng ta, chúng ta liền xưng vị ấy là hòa thượng. Ở trong một trường học, đích thân dạy bảo học sinh là hiệu trưởng, chính sách giáo dục là do ông quyết định, khóa trình là do ông chỉ đạo, những giáo viên kia là chấp hành theo sự chỉ đạo của ông, giúp đỡ ông dạy học. Thế nên, thành công hay thất bại trong việc dạy học là do hiệu trưởng chịu trách nhiệm, giáo viên không chịu trách nhiệm, vì thế hiệu trưởng chính là hòa thượng, là thân giáo sư…


Trích “Tịnh Tông Nhập Môn - Vì Sao Tu Hành Pháp Môn Tịnh Độ”:
Tu học Phật pháp, mục tiêu hàng đầu của chúng ta đương nhiên sẽ là liễu thoát sanh tử, siêu vượt luân hồi, đây là một vấn đề lớn, chính là “một đại sự nhân duyên” mà Phật giảng trong kinh Pháp Hoa. Trong rất nhiều kinh luận Đại thừa đức Thế Tôn nói cho chúng ta biết, bất luận là trên lý luận hay phương pháp, không gì không lấy điều này làm mục tiêu cuối cùng. Nhưng Phật pháp truyền đến ngày nay, y theo ghi chép của lịch sử Trung Quốc thì đã được 3000 năm, còn theo ghi chép của người ngoại quốc thì cũng đã hơn 2500 năm. Pháp truyền qua thời gian dài như vậy sẽ không tránh khỏi sanh ra những điều không tốt. Trong kinh điển Đại thừa thường gọi hiện nay là thời kỳ mạt pháp, cũng tức là 2500 năm sau khi đức Phật Thích-ca Mâu-ni diệt độ, căn tánh của chúng sanh ở thời đại này dĩ nhiên là không giống với thời xưa. Bởi vì có rất nhiều kinh luận và pháp môn không phải là không tốt, nhưng người hiện nay như chúng ta tu học không được, thực sự là nói được mà làm không được!

Y cứ theo lý luận và nguyên tắc của kinh điển Đại thừa, cho dù là tu học bất kỳ pháp môn nào, Hiển giáo cũng tốt, Mật giáo cũng tốt, Thiền tông cũng tốt, Giáo hạ cũng tốt, tất cả đều cần phải đoạn kiến tư phiền não mới có thể liễu thoát sanh tử. Cái gì gọi là kiến tư phiền não? Nói một cách đơn giản thì “kiến” chính là chỉ cho kiến giải sai lầm, cách nhìn sai lầm đối với vũ trụ nhân sinh, đó gọi là “kiến phiền não”. “Tư” là chỉ cho tư tưởng sai lầm và cách nghĩ sai lầm. Phạm vi bao hàm của “kiến tư” quá rộng, quá lớn. Trong kinh luận đức Phật đem vô lượng kiến tư phiền não quy nạp thành mười loại lớn, đây là để thuận tiện cho việc thuyết pháp. Mười loại lớn này đã bao gồm tất cả, nhưng thật ra mà nói người hiện nay không đoạn được, một thứ cũng đoạn không nổi, huống hồ là mười loại lớn! Nếu như đoạn không được phiền não thì tu học cả đời này sẽ không thể thành tựu. Đây không phải là vấn đề của một người nào đó mà là căn bệnh chung của người hiện nay.

Chúng ta từ trong cuốn “Niệm Phật Luận” của Đại sư Đàm Hư có thể xem thấy được, ngài đã rất cảm khái mà nói, cả đời ngài gặp được, nghe được người tham thiền đắc thiền định đã là rất ít, rất ít rồi; còn người tham thiền khai ngộ thì không những cả đời chưa gặp, mà nghe cũng chưa từng nghe qua, đây là nêu ra một thí dụ để nói. Nếu như tham thiền không thể đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh thì không tính là thành tựu; đắc thiền định, công phu của định có cạn có sâu, công phu cạn thì sanh tới Sơ thiền, Nhị thiền; công phu sâu thì sanh tới Tam thiền, Tứ thiền. Trời Tứ Thiền và trời Tứ Không cũng chưa thoát khỏi Thiên đạo, huống hồ người đạt được thiền định đã như “lông phụng sừng lân” rồi.  Đây chính là nói rõ chúng sanh trong thời kỳ mạt pháp phiền não tập khí của bản thân rất nặng, lại còn thêm hoàn cảnh ngoại duyên không tốt. Cái gì là “không tốt”? Danh văn lợi dưỡng, tài sắc danh thực thùy (tiền tài, sắc đẹp, tiếng tăm, ăn uống, ngủ nghỉ) đều đang mê hoặc dụ dỗ; bên trong có phiền não, bên ngoài có mê hoặc thì bạn làm sao có thể thành tựu cho được?

Huống hồ trong lúc tu học, những đại đức thời xưa thường nói là “không thật thà”, câu nói này nghe rất có sức nặng, ý nghĩa cũng rất sâu, rất rộng. Chúng ta nghe xong thường không để ý, cười cười rồi thôi, không hề xem trọng, không biết được câu nói này đã nói trúng yếu điểm của chúng ta. Vì sao không thật thà? Việc này không ngoài hai nguyên nhân, nếu y theo kinh Phật mà nói thì đây gọi là thiện căn mỏng, không có phước báo. Nếu dùng lời hiện nay mà nói thì:

          Thứ nhất: Chúng ta đối với nghĩa kinh chưa thực sự hiểu rõ.
          Thứ hai: Chúng ta chưa nếm đủ nỗi khổ cực trong thế gian.

Cho nên tu học không thành thật, như vậy sẽ bỏ lỡ việc lớn của cả đời chúng ta. Vậy thì phải làm sao mới có thể đạt được lợi ích thù thắng trong Phật pháp? Tu học như thế nào để ngay trong một đời này của chúng ta mới chân thật có thành tựu? Đây đều là sự mong mỏi trong lòng của mỗi vị đồng tu. Chúng ta đã có nguyện vọng này, nhưng tâm nguyện này có thật sự khẩn thiết hay không? Nếu như thật sự có nhận thức này, thật sự có tâm nguyện khẩn thiết, vậy thì người này trong kinh Phật gọi là “người giác ngộ”, họ chân thật đã giác ngộ rồi!

Nếu như chúng ta vẫn sống mơ mơ màng màng, qua được ngày nào hay ngày đó, dùng tâm thái như vậy để học Phật thì vẫn là sống trong vô minh mê hoặc y như cũ, chẳng có giác ngộ, công phu tu học của họ làm sao đắc lực cho được! Những năm gần đây, chúng tôi trong các buổi diễn giảng, quý vị cũng nghe được từ các băng ghi hình, đã có một số được viết thành sách, mọi người cũng đều xem thấy, chúng ta phải bắt đầu học từ đâu? Nhất định phải từ “Tam phước, Lục hòa”, Lục hòa không phải chỉ dành riêng cho đạo tràng của người xuất gia, nếu như Lục hòa chuyên dành cho đạo tràng của người xuất gia vậy thì người tại gia làm sao mới có thể thành tựu?

Chúng ta nhất định phải hiểu được Lục hòa không phân biệt tại gia hay xuất gia, cho nên Phật pháp là pháp bình đẳng.  Đặc biệt là pháp môn Tịnh độ, A-di-đà Phật là đại từ đại bi, có thể giúp đỡ hết thảy chúng sanh trong chín pháp giới bình đẳng thành Phật, cho nên trong thời mạt pháp muốn thành tựu được thì chỉ có pháp môn này mà thôi. Trong số những người niệm Phật vãng sanh, có người đứng mà đi, có người ngồi mà đi, biết trước ngày giờ ra đi, không có bệnh khổ, chúng ta đích thực là tận mắt nhìn thấy, cũng có khi nghe thấy. Pháp môn này gọi là “đạo dễ hành”. Nền tảng tu học của pháp môn này vẫn là Tam phước, Lục hòa. Tôi nghĩ đồng tu chúng ta ai ai cũng biết Tam phước, Lục hòa, ai cũng có thể nói được, nhưng đã làm được chưa? Chưa làm được thì không có tác dụng gì. Mấy tuần trước tôi thuyết giảng ở Los Angeles, có một vị đồng tu đến nói với tôi, ông nói ông trì kinh.

          Tôi hỏi: Ông trì kinh gì vậy?
          Ông nói: Ông đã trì kinh Vô Lượng Thọ được ba ngàn lần.
          Tôi liền bảo với ông: Ông không phải trì kinh.
          Ông hỏi: Vậy thì là gì? Mỗi ngày con đều đọc tụng mà.
          Tôi nói: Ông chỉ đọc kinh, ông đọc được ba ngàn lần, ông không có trì.
          Ông hỏi: Thế nào gọi là trì?
          Tôi trả lời: Trì nghĩa là làm được, những gì Phật dạy trong kinh ông đã làm được hay chưa? Nếu chưa làm được thì gọi là đọc kinh, ngay cả “niệm kinh” cũng không phải, niệm là gì? Niệm là trong tâm ông thật có, ông chỉ là hữu khẩu vô tâm, có đúng hay không?”
          Ông nói: “Dạ đúng”.

Hữu khẩu vô tâm thì gọi là đọc kinh, niệm kinh còn không có thì sao có thể gọi là “trì kinh” cho được? Tôi đưa ra một câu nói trong kinh: “Khéo giữ khẩu nghiệp, không nói lỗi người”, ông làm được hay không? Kể ra thì ông vẫn thật thà, ông lắc đầu và nói: “Con chưa làm được”, nếu chưa làm được thì không phải là trì kinh. Trong kinh luận Đại thừa đức Phật nói với chúng ta: “Thọ trì đọc tụng, vì người diễn nói”, thọ trì được đặt ở đầu tiên. Bạn đã hiểu những lý luận mà Phật giảng, bạn đã rõ ràng phương pháp, bạn có thể đem lý luận, phương pháp hoàn toàn làm được trong đời sống thường ngày, đó mới gọi là thọ trì. Cho nên thọ trì và đọc tụng là hai chuyện khác nhau, không thể xem là giống nhau.


 
nhận thức phật giáo & tịnh tông nhập môn 5


Tôi dạy những người mới học Phật, ban đầu phải đem kinh đọc ba ngàn lần, mục đích để làm gì? Đó là dạy bạn ghi nhớ những lời giáo huấn trong kinh điển không bao giờ quên, nhất định phải ở trong đời sống, ở trong xử sự, đối người tiếp vật làm cho được, đây gọi là thọ trì, như vậy mới có cảm ứng. Giả như bạn không làm theo, sau đó bạn đến nói với tôi là bạn có cảm ứng, tôi có tin tưởng hay không? Tôi tin. Tại sao tôi tin? Cảm ứng của bạn không phải là cảm ứng với chư Phật, Bồ-tát, mà bạn cảm ứng với yêu ma quỷ quái, thật sự có cảm ứng! Yêu ma quỷ quái gia trì cho bạn, giúp cho bạn tăng trưởng thêm tham sân si, giúp cho bạn tạo thêm ác nghiệp, giúp cho bạn nhanh đọa địa ngục A-tỳ hơn.

Trong kinh Lăng Nghiêm đoạn sau cùng đức Thế Tôn nói người học Phật chúng ta có năm mươi loại ấm ma, ma sẽ gia trì, chúng ta không thể xem thường sức mạnh, oai thần của ma. Nếu tâm của bạn chánh, hạnh chánh thì sẽ cảm ứng đạo giao với Phật, Bồ-tát; nếu tâm tà, hạnh tà thì sẽ cảm ứng đạo giao với yêu ma quỷ quái. Xã hội ngày nay rất phức tạp, tình hình trong lục đạo so với chúng ta lại càng phức tạp hơn. Một người ở trong thời đại này muốn liễu sanh tử, thoát tam giới đích thực không phải là chuyện dễ, nhưng cũng không thể xem nó là việc quá khó, nếu xem quá khó thì cũng là sai lầm. Đích thực là có con đường, có phương pháp, nhất định phải tuân theo lời dạy của Phật-đà, y giáo phụng hành…



 
nhận thức phật giáo & tịnh tông nhập môn 6 min



MỤC LỤC:
NHẬN THỨC PHẬT GIÁO
Lời Nói Đầu
  1. Duyên Khởi
  2. Phật Pháp Là Gì?
  3. Phật Giáo Là Gì?
  4. Mục Tiêu Giáo Dục Của Phật Đà
  1. Quy Định Học Vị Trong Phật Giáo
  2. Mục Tiêu Giáo Học Của Phật Giáo
  1. Nhập Môn Giáo Dục Phật Giáo – Kinh Địa Tạng
  1. Đại Viên Mãn
  2. Pháp Đại Thừa Viên Mãn – Tứ Đại Bồ Tát
  1. Năm Khoa Mục Lớn Trong Tu Học Phật Pháp
  1. Tam Phước
Phước Nhân Thiên
Phước Nhị Thừa
Phước Đại Thừa
  1. Lục Hòa Kính
  2. Tam Học Giới – Định – Tuệ
  3. Lục Độ
Bố Thí
Trì Giới
Nhẫn Nhục
Tinh Tấn
Thiền Định Và Bát Nhã
  1. Thập Nguyện
  1. Thứ Lớp Tu Học Phật Pháp
  1. Tín – Giải – Hành – Chứng
  2. Giới – Định – Tuệ Cùng Tu
  1. Nghệ Thuật Giáo Học Trong Phật Pháp
  2. Tổng Kết
  3. Thuật Ngữ Phật Học Trong Sách Này
TỊNH TÔNG NHẬP MÔN
  1. Vì Sao Tu Hành Pháp Môn Tịnh Độ?
  2. Tam Phước
  1. Hiếu Dưỡng Cha Mẹ, Phụng Sự Sư Trưởng, Từ Tâm Không Giết, Tu Thập Thiện Nghiệp
  2. Thọ Trì Tam Quy, Đầy Đủ Các Giới, Không Phạm Oai Nghi
  3. Phát Bồ Đề Tâm, Tin Sâu Nhân Quả, Đọc Tụng Đại Thừa, Khuyến Tấn Hành Giả
  1. Chướng Ngại Của Hành Giả
  2. Tiêu Trừ Chướng Ngại
  1. Không Tìm Lỗi Người
  2. Không Khen Mình Chê Người
  1. Pháp Thanh Tịnh Giải Thoát
  1. Xa Rời Huyên Náo
  2. Ít Muốn Biết Đủ
  3. Xa Rời Lợi Dưỡng
  4. Dùng Tâm Không Mong Cầu Thuyết Pháp
  5. Không Dùng Tâm Tham Ô Để Thuyết Pháp
  6. Không Lấy Việc Cung Kính, Cúng Dường Để Bản Thân Yên Vui Làm Lợi Ích
  7. Dùng Tụng Kinh Niệm Phật Để Đè Nén Vọng Niệm
  1. Chánh Pháp Tuyệt Đối Tương Ứng Với Lợi Ích Chân Thật
  2. Bốn Nguyên Tắc Để Phân Biệt Chánh Tà
  3. Hạnh Tốt Và Hạnh Xấu
  4. Ba Cương Lĩnh Lớn Của Hành Môn
  5. Điểm Quan Trọng Của Hành Môn
  6. Phụ Lục
  1. Người Nội Trợ Trong Gia Đình Làm Sao Để Tu Bồ Tát Đạo Ngay Trong Đời Sống Thường Ngày
  2. Tinh Yếu Pháp Thập Niệm


 
thông tin cuối bài viết 2
 
thông tin cuối bài viết 1
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây