GIA NGÔN LỤC - ẤN QUANG ĐẠI SƯ (tạm hết) GIA NGÔN LỤC - ẤN QUANG ĐẠI SƯ (tạm hết) Tác Giả: Ấn Quang Đại Sư
Dịch: Như Hòa
NXB: Tôn Giáo
Số Trang: 496 Trang
Hình Thức: Bìa Mềm
Khổ: 14x20cm
Năm XB: 2014
Độ Dày: 2,4cm
GNL1 Sách của Tổ sư Tịnh Độ 70.000 đ Số lượng: 1000010 Quyển
  • GIA NGÔN LỤC - ẤN QUANG ĐẠI SƯ (tạm hết)

  •  702 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: GNL1
  • Giá bán: 70.000 đ

  • Tác Giả: Ấn Quang Đại Sư
    Dịch: Như Hòa
    NXB: Tôn Giáo
    Số Trang: 496 Trang
    Hình Thức: Bìa Mềm
    Khổ: 14x20cm
    Năm XB: 2014
    Độ Dày: 2,4cm


Số lượng
ấn quang đại sư gia ngôn lục


LỜI TỰA

Pháp môn Tịnh Độ lý cực cao sâu, sự cực giản dị. Do vậy, người thiên tư thông mẫn, tri kiến cao siêu thường xem Tịnh Độ là pháp tu của bọn ngu phu, ngu phụ, chẳng chịu tu trì. Nào biết đây là pháp môn rốt ráo để mười phương tam thế hết thảy chư Phật, trên thành Phật đạo, dưới độ chúng sanh, thành thỉ, thành chung. Họ thấy kẻ ngu phu, ngu phụ tu được pháp này bèn coi thường, sao chẳng xét trong hội Hoa Nghiêm, bậc đã chứng bằng với Phổ Hiền, bằng với chư Phật, vẫn phải dùng mười đại nguyện vương hồi hướng vãng sanh Tây Phương Cực Lạc ngõ hầu viên mãn Phật Quả? Miệt thị pháp môn Tịnh Độ chẳng chịu tu là coi những vị trong hội Hoa Nghiêm thuộc hạng người gì? Chỗ quy tông cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm có đáng nên tôn trọng hay nên coi thường đây?

[Có thái độ như vậy] không có gì khác hơn là do chưa xét kỹ nguyên do của từng pháp môn thông thường và đặc biệt, cũng như tự lực, Phật lực, đại, tiểu, khó, dễ, nên mới đến nỗi như thế. Nếu đã xét kỹ, há chẳng học đòi Hoa Nghiêm Hải Chúng, nhất trí tiến hành cùng cầu vãng sanh ư? Ấn Quang tôi từ lúc búi tóc đọc sách, nhiễm ngay phải cái độc bài Phật của Hàn, Âu, Trình, Chu, may là không có được cái tài như Hàn, Âu, Trình, Chu. Nếu như có được chút tài như họ, ắt sẽ tự mình lầm, khiến người lầm, thân còn sống mà đã hãm trong địa ngục A Tỳ mất rồi. Từ năm mười bốn, mười lăm tuổi về sau, bệnh nặng nhiều năm. Từ đấy chiêm nghiệm khắp xưa nay, xem kỹ kinh sách, mới hay những thuyết do Hàn, Âu, Trình, Chu lập đó đều là những tri kiến quẩn quanh ngoài cửa ngõ, tuyệt chẳng đạt đến những sự huyền áo trong nhà.

Nhược quan (là 20 tuổi. Thời cổ, con trai đến 20 tuổi làm lễ đội mũ nhược quan, công nhận là một người trưởng thành) được một năm, tôi liền xuất gia làm Tăng, chuyên tu Tịnh nghiệp. Thề trọn một đời này làm một kẻ tự tu, chẳng lập môn đình, rộng thâu đồ chúng đến nỗi con cháu đời sau làm Phật pháp bại hoại, kéo cả Ấn Quang tôi vào trong địa ngục A Tỳ chịu khổ với chúng. Đến năm Quang Tự 19 (Quý Tỵ - 1893), hòa thượng Hóa Văn chùa Pháp Vũ ở Phổ Đà Sơn lên kinh đô thỉnh Đại Tạng Kinh, nhờ tôi coi sóc việc ấn loát. Xong việc, Hòa Thượng mời tôi cùng về núi. Biết tôi chẳng thích tham gia Tăng sự, Ngài cho tôi ở riêng một liêu, tùy ý tu trì. Đến nay đã hơn ba mươi lăm năm rồi. Ở núi lâu ngày, có việc phải dùng đến bút mực viết lách, tuyệt chẳng dùng đến tên gọi Ấn Quang. Ngay cả những văn tự cần phải ký tên, cũng chỉ tùy tiện viết hai chữ là xong. Vì thế trong hai mươi năm qua, không có người khách nào đến thăm, cũng không có thư từ qua lại làm phiền.

Năm đầu Dân Quốc (1911), cư sĩ Cao Hạc Niên đem mấy thiên văn cảo đăng trên Phật Học Tùng Báo, chẳng dám dùng tên Ấn Quang, mà dùng tên Ấn Quang thường tự xưng là Thường Tàm Quý Tăng. Vì thế, ký tên là Thường Tàm. Cư sĩ Từ Uất Như và Châu Mạnh Do tưởng lầm là Kiến Thường, nghe nói [lầm như vậy] cả ba bốn năm chẳng hề biết. Sau Mạnh Do lên núi bái yết, xin quy y, đem mấy thiên bản cảo tệ hại gởi cho Uất Như, đưa in ở kinh đô, đặt tên là Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao khiến cho văn tôi gai mắt khắp mọi người cao nhã nên càng thêm hổ thẹn.

Năm Dân Quốc thứ bảy, thứ tám (1918-1919), họ lại lôi ra thêm mấy thiên nữa, soạn thành sách Tục Biên, in chung với cuốn Sơ Biên. Năm Dân Quốc thứ chín, giao cho Thượng Hải Thương Vụ Ấn Thư Quán sắp chữ thành hai cuốn để làm bản lưu. Mùa Xuân năm Dân Quốc thứ 10, sách in xong. Quang tôi lại qua Dương Châu, đem bản sắp chữ năm Dân Quốc thứ 9 khắc thành một bản, chia làm bốn cuốn. Năm Dân Quốc thứ 11, lại giao cho Thương Vụ Ấn Thư Quán in thành bốn cuốn. Khi ấy, các cư sĩ chỉ yêu cầu in hai vạn bộ, nhưng đến khi Thương Vụ Ấn Thư Quán in xong, gởi ra bán, số ấy vẫn chẳng đủ!

Mùa Đông năm Dân Quốc thứ 14 (1925), lại giao cho Trung Hoa Thư Cục in bản tăng quảng (bản mở rộng – do thêm vào những bài mới), cũng chia thành bốn cuốn, dày hơn lần in trước một trăm tờ. Mùa Hạ năm nay in sách, do phong trào công nhân đấu tranh, giá in rất cao, chỉ in được hai ngàn bản. Bản gốc đã đem đánh máy ra thành bốn bản sao thì nhà in giữ lại hai bản, trả về cho Quang hai bản. Tôi bèn giao cho Hàng Châu Chiết Giang Ấn Loát Công Ty in trước một vạn bản, sau đó sẽ in tiếp.

Một nhân duyên tình cờ nữa là cư sĩ Viên Tịnh Lý Vinh Tường trong mấy năm qua, chuyên tâm học Phật, đối với luận Khởi Tín, kinh Lăng Nghiêm, kinh Viên Giác đều viết sớ giải. Quang bảo: “Người thanh niên nên thiết thực dụng công niệm Phật trước đã, đến khi nghiệp tiêu trí rạng, chướng tận, phước dày rồi sẽ lại phát huy, tự có thể xiển minh Phật ý truyền khắp vũ trụ”. Khi ấy, ông Lý chẳng chịu là đúng. Sau vì dụng tâm quá độ, tinh thần, thân thể mỗi ngày một suy, mới hay lời tôi nói chẳng sai.

Ông bèn đọc kỹ Văn Sao, hoan hỷ khôn xiết nên trích lục những nghĩa trọng yếu, chia thành từng môn, từng loại, soạn thành một cuốn, tính dùng giấy in báo in một ngàn cuốn để đáp ứng nhu cầu cần đọc ngay của độc giả. Tháng Năm, ông đến thưa chuyện cùng Quang, rồi cùng vợ thọ quy y. Tháng Tám sách in ra, chẳng lâu sau sách được thỉnh hết. Thư yêu cầu nườm nượp gởi tới, tôi bèn bảo giám ngục Tào Hà Kinh sắp đặt việc in sách. Cư sĩ Trần Địch Châu xin đảm nhiệm việc trình bày, cũng như chịu phí tổn đánh máy bốn bản sao. Ông lại chịu tiền in hai ngàn bản, một lúc bỏ ra gần hai vạn.

Với xuất xứ của mỗi câu trong bản này, thuộc quyển nào, trang nào, ông Lý đều ghi kỹ để người đọc có thể đối chiếu với quyển Văn Sao. Do chỉ chép lấy những nghĩa trọng yếu trong các bài văn, xếp vào một loại nên trong mỗi thể loại, ý nghĩa [từng đoạn trích] khá giống nhau, nhưng tôi chẳng lược bớt đi, ngõ hầu người đọc được khuyên đi, khuyên lại nhiều lần sẽ đoạn ngay được lòng nghi, phát sanh lòng tin. Xuất xứ từ quyển nào, trang số mấy đều dựa theo cách đánh số trong bản Tăng Quảng Văn Sao để làm bản lưu thông vĩnh viễn, sau này không phải in lại nữa.

 Lại vì Văn Sao ý nhiều, nghĩa lắm, có lẽ kẻ sơ cơ khó lòng phân biệt, hiểu rõ dễ dàng được, nên tôi thuận theo cơ nghi, muốn cho họ trước hết thấy được những điều trọng yếu của pháp môn, từ đấy sẽ thiết thực tấn tu, tự đạt đến chỗ cùng cực, khỏi phải đến nỗi nhìn biển than dài hoặc đến nỗi lui sụt. Nhân đây, chép cả mục lục cuốn Văn Sao Tuyển Độc Biên vào sau mục lục cuốn Gia Ngôn Lục để người chưa từng nghiên cứu Phật học dễ theo dõi. Tôi trình bày duyên do như thế để mong người đọc đều biết rõ.

Nguyện người thấy, người nghe đừng cho lời tôi nói là tầm thường, quê mùa rồi bỏ qua, chỉ toan cầu lấy điều cao thâm, huyền diệu. Đạo của Nghiêu Thuấn chỉ là hiếu đễ mà thôi. Đạo của Như Lai chỉ là Giới - Định - Huệ. Thực hành được việc tầm thường, quê mùa, hành đến cùng cực thì lý cao thâm huyền diệu há còn phải cầu nơi nào khác nữa ư? Nếu không thì chỉ cao thâm huyền diệu nơi đầu môi chót lưỡi, khi sanh tử xảy đến chẳng dùng được mảy may! Xin độc giả hãy lưu tâm!
Mồng Tám tháng Chạp năm Đinh Mão, Dân Quốc 16 (1927)
Cổ Tân Thường Tàm Quý Tăng Thích Ấn Quang cẩn soạn.


 
ấn quang đại sư gia ngôn lục 1



TRÍCH ĐOẠN

I - TỊNH ĐỘ THÙ THẮNG
Lớn lao thay! Điều được pháp môn Tịnh độ chỉ dạy là: “Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”, chỉ thẳng tâm người. Nếu vẫn cho là kém kỳ lạ, đặc biệt thì mỗi niệm niệm Phật chính là thành Phật ngay trong niệm ấy. Độ khắp ba căn, thống nhiếp Thiền, Luật, Giáo. Như mưa đúng thời nhuần thấm vạn vật, giống như biển cả dung nạp trăm sông.

Hết thảy pháp Thiên, Viên, Đốn, Tiệm, không pháp nào chẳng phát xuất từ Pháp giới này. Hết thảy hạnh Đại, Tiểu, Quyền, Thật, không hạnh nào chẳng quy về nơi Pháp giới này. Chẳng đoạn hoặc nghiệp, liền dự được vào hàng Bổ xứ, viên mãn Bồ-đề ngay trong một đời này. Chúng sinh trong Cửu giới lìa môn này thì trên là chẳng thể viên thành Phật đạo. Mười phương chư Phật bỏ pháp môn này thì dưới là chẳng thể lợi khắp quần sinh. Bởi đó, trọn Hoa Nghiêm hải chúng cùng tuân theo mười đại nguyện vương; Pháp Hoa vừa xưng một tiếng liền chứng Thật tướng các pháp.

Tịnh độ là hạnh phương tiện tối thắng, nên trong luận Khởi Tín, ngài Mã Minh bảo là dễ hành mau đến, ngài Long Thọ xiển dương pháp này trong luận Tỳ-bà-sa. Hậu thân của đức Thích-ca là ngài Trí Giả nói ra Thập Nghi Luận chuyên chí Tây Phương, sư Vĩnh Minh là Phật Di-đà thị hiện, soạn Tứ Liệu Giản, chung thân niệm Phật dẫn Tam thừa Ngũ tánh cùng chứng Chân thường, đưa thượng Thánh hạ phàm cùng lên bờ kia.

Vì thế, pháp môn này cả Cửu giới cùng hướng về, mười phương cùng khen ngợi, ngàn kinh cùng xiển dương, vạn luận đều tuyên thuyết. Thật có thể nói là pháp cực đàm của một đời giáo hóa của đức Phật, là đại giáo Nhất thừa Vô Thượng, chẳng trồng cội đức thì trải bao kiếp khó gặp được. Đã được thấy nghe phải siêng tu tập.

Giáo-lý-hạnh-quả là cương tông của Phật pháp. Nhớ Phật, niệm Phật thật là đường tắt để đắc đạo. Thời xưa, cứ tu một pháp thì cả bốn (giáo-lý-hạnh-quả) đều đủ. Còn đời này, nếu bỏ Tịnh độ thì hoàn toàn chẳng chứng được đạo quả. Ấy là vì cách biệt Thánh đã xa, căn tánh con người hèn kém, nếu chẳng cậy vào Phật lực, quyết khó được giải thoát.

Như đã nói: “Pháp môn Tịnh độ nhiếp khắp căn cơ thượng, trung, hạ; cao trội hơn Luật, Giáo, Thiền tông, thật là lòng từ bi triệt để của chư Phật, chỉ bày thể tánh sẵn có của chúng sinh, dẫn Tam thừa Ngũ tánh đồng quy cõi tịnh, đưa thượng Thánh hạ phàm cùng chứng Chân thường. Cửu giới chúng sinh lìa pháp này thì trên chẳng thể viên thành Phật đạo, mười phương chư Phật bỏ pháp môn này thì dưới chẳng thể lợi khắp quần sinh”.

Thế nên, vãng Thánh tiền hiền (Thánh Hiền đời trước) ai nấy đều hướng về, ngàn kinh vạn luận đâu đâu cũng chỉ quy. Từ sau hội Hoa Nghiêm dẫn khởi quy hướng, các đại Bồ-tát tận khắp mười phương thế giới không vị nào chẳng cầu sinh Tịnh độ; kể từ khi diễn thuyết tại Kỳ Viên đến nay, cuối hết thảy các trước thuật của Tây Thiên, Đông Độ đều quy kết Liên Bang.

Cổ nhân nói: “Thân người khó được, trung quốc khó sinh, Phật pháp khó nghe, sinh tử khó xong”. Chúng ta may mắn được thân người, sinh ở trung quốc, được nghe Phật pháp. Điều bất hạnh là tự thẹn nghiệp chướng sâu nặng, không sức đoạn hoặc để mau thoát khỏi Tam giới, liễu sinh thoát tử; nhưng lại may mắn được nghe được đức Như Lai ta tâm bi triệt để nói ra pháp môn Tịnh độ là pháp đại quyền xảo, phương tiện lạ lùng, khiến hàng phàm phu lè tè sát đất được đới nghiệp vãng sinh, thật không gì may mắn hơn nữa! Nếu chẳng phải là từ vô lượng kiếp đến nay đã trồng thiện căn sâu dày, làm sao nghe được pháp chẳng thể nghĩ bàn này? Chẳng nên gấp sinh lòng tin chân thành, phát nguyện cầu sinh ư?

Trộm nghe, Tịnh độ chính là pháp tỏ bày rốt ráo bổn hoài của Phật, cao vượt hết thảy Thiền, Giáo, Luật, thống nhiếp hết thảy Thiền, Giáo, Luật. Nói gọn thì một lời, một câu, một kệ, một sách đều có thể gồm trọn không còn sót. Nói rộng ra, dù huyền ngôn của Tam tạng mười hai bộ kinh, diệu nghĩa của chư Tổ năm tông cũng chẳng thể diễn giảng trọn pháp môn Tịnh độ này.

Giả sử khắp cả đại địa chúng sinh đều thành Chánh Giác, hiện tướng lưỡi rộng dài dùng sức thần thông, sức trí huệ, vi trần nói, cõi nước đó, nói hăm hở, nói không gián đoạn, vẫn còn chưa thể tận nổi! Bởi lẽ, Tịnh độ vốn là chẳng thể nghĩ bàn. Hãy thử nghĩ xem: Hoa Nghiêm đại kinh là vua trong Tam tạng, trong phẩm cuối cùng quy trọng nơi nguyện vương. Áo điển Pháp Hoa mầu nhiệm đứng đầu các kinh, nghe kinh liền vãng sinh, địa vị ngang với Đẳng giác. Vậy thì ngàn kinh muôn luận đâu đâu đều chỉ quy y Tịnh độ là có nguyên do vậy.

Văn Thù phát nguyện, Phổ Hiền khuyến khích. Trong hội Đại Tập, đức Như Lai thọ ký rằng: “Trong đời mạt pháp, không do pháp này chẳng thể đắc độ”. Trong luận Tỳ-bà-sa, ngài Long Thọ phán định là pháp dễ hành, mau thoát sinh tử. Thế nên, vãng Thánh tiền hiền người người hướng đến, nào phải phí công toi! Thật có thể nói là cả một đời giáo hóa đều chỉ là để đặt cơ sở cho pháp môn niệm Phật!


 
ấn quang đại sư gia ngôn lục 2


Chẳng phải chỉ có thế! Phàm hết thảy cảnh giới đối ứng sáu căn, tức là: núi, sông, đại địa, sáng, tối, sắc, không, thấy, nghe, hay, biết, thanh, hương, vị v.v… không gì chẳng phải là văn tự để phô diễn, xiển dương Tịnh độ đó sao? Lạnh nóng đắp đổi, già bệnh chen nhau; lụt, hạn, chiến tranh, tật dịch, bạn ma, tà kiến, không gì chẳng phải là để răn nhắc cảnh tỉnh con người mau cầu sinh Tịnh độ đó ư? Nói rộng ra, há có thể trọn hết được sao?

Còn như bảo “một lời đã gộp hết cả” thì đó là “Tịnh”. Tịnh đến cùng cực thì sáng tỏ, thông suốt. Nếu chưa đạt Diệu Giác, há dễ đảm đương nổi một lời này ư? Nghiên cứu bài tụng Lục Tức Thành Phật thì sẽ biết. “Một câu” là “Tín, Nguyện, Hạnh”. Với Tín, Nguyện, Hạnh thì không Tín chẳng đủ để khởi Nguyện. Không Nguyện thì chẳng đủ để dẫn dắt Hạnh. Không có diệu hạnh trì danh thì chẳng đủ để viên mãn điều mình Nguyện, chứng điều mình tin. Hết thảy kinh luận Tịnh độ đều phát minh ý chỉ này.

“Một kệ” là kệ tán Phật, nêu chánh báo để gồm thâu y báo, thuật Hóa Chủ đề bao gồm đồ chúng; tuy chỉ gồm tám câu nhưng đã nêu trọn đại cương của cả ba kinh Tịnh độ.

Một cuốn sách là cuốn Tịnh Độ Thập Yếu. Chữ chữ đều là bến cầu cho đời mạt pháp. Lời lời đều là gương báu của Liên Tông. Buốt lòng trào lệ, phanh tim vẩy máu, xứng tánh phát huy, chỉ bày cốt tủy. Dù dùng những thí dụ như cứu người chết đuối, cứu người bị lửa cháy vẫn chẳng thể diễn tả lòng thống thiết của chư Tổ được. Bỏ qua sách này thì chánh tín không do đâu mà sinh được, tà kiến không do đâu mà diệt được!

Nên biết rằng, chúng ta từ vô thủy đến nay đã tạo ác nghiệp vô lượng, vô biên. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Giả sử ác nghiệp có thể tướng thì mười phương hư không chẳng thể chứa đựng nổi”. Lẽ đâu tu trì lơ mơ, hời hợt, lại tiêu nổi được nghiệp ư? Bởi vậy, Thích-ca, Di-đà, giáo chủ hai cõi, đau đáu nghĩ đến chúng sinh không sức đoạn hoặc, riêng mở ra một pháp môn nương vào từ lực của Phật để đới nghiệp vãng sinh. Lòng hoằng từ đại bi ấy dù trời đất, cha mẹ cũng chẳng thể bằng được một phần Hằng hà sa, chỉ nên phát lòng thẹn hổ, phát tâm sám hối mới tự có thể được Phật gia bị, nghiệp tiêu, thân an thôi!

Hòa thượng Thiện Đạo nói: “Nếu muốn học về Giải thì hết thảy các pháp từ địa vị phàm phu cho đến địa vị Phật, không pháp nào chẳng nên học. Nếu muốn học về Hạnh, nên chọn lấy một pháp khế lý, khế cơ, chuyên tinh tận sức mới mau chứng được lợi ích chân thật. Nếu không thì từ kiếp này qua kiếp nọ vẫn khó xuất ly!”. Pháp khế lý, khế cơ Ngài nói đó không gì hơn là Tín Nguyện trì danh cầu sinh Tây Phương!

Kinh A-di-đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ gọi là Tịnh Độ Tam Kinh, chuyên luận về sự lý duyên khởi của Tịnh độ. Các kinh Đại thừa khác đều nói kèm về Tịnh độ. Nhưng kinh Hoa Nghiêm chính là khi đức Như Lai mới thành Chánh Giác, vì bốn mươi mốt địa vị Pháp thân Đại sĩ mà xứng tánh giảng thẳng diệu pháp Nhất thừa. Cuối kinh, Thiện Tài đi tham học khắp các thiện tri thức. Sau khi chứng ngộ như chư Phật, Thiện Tài Đồng Tử được Phổ Hiền Bồ-tát giảng cho nghe mười đại nguyện vương. Ngài dạy Thiện Tài và khắp Hoa Nghiêm hải chúng hồi hướng vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới ngõ hầu được viên mãn Phật quả.

Trong Quán Kinh, phần nói về Hạ phẩm Hạ sinh, kẻ Ngũ nghịch, Thập ác đủ các điều bất thiện, lúc lâm chung tướng địa ngục hiện, có thiện tri thức dạy cho niệm Phật, kẻ ấy liền vâng lời dạy, xưng niệm Phật danh, chưa đầy mười tiếng liền thấy hóa thân Phật đưa tay tiếp dẫn vãng sinh.

Kinh Đại Tập dạy: “Đời mạt pháp ức ức người tu hành, hiếm có một người đắc đạo. Chỉ có nương vào niệm Phật mới thoát khỏi sinh tử”. Do đấy, ta biết rằng pháp niệm Phật là đạo để thượng Thánh hạ phàm cùng tu, là pháp dù trí hay ngu đều hành được. Hạ thủ dễ, thành công cao, dùng sức ít nhưng được hiệu quả nhanh. Do chuyên cậy vào Phật lực nên lợi ích thù thắng, vượt trội những giáo pháp thông thường. Người xưa nói: “Các môn khác học đạo như kiến bò lên núi cao. Niệm Phật vãng sinh như căng buồm thuận gió, nước xuôi”, thật rất khéo hình dung vậy!

Đại Giác Thế Tôn thương các chúng sinh mê trái tự tâm, luân hồi Lục đạo, trải bao kiếp dài lâu chưa thể thoát ra. Do vậy, Ngài hưng khởi Vô Duyên Từ, vận lòng bi đồng thể, thị hiện sinh trong thế gian, thành Đẳng Chánh Giác, tùy thuận cơ nghi nói rộng các pháp. Nói đại cương, gồm có năm tông. Năm tông gì? Là Luật, là Giáo, là Thiền, là Mật, là Tịnh.

Luật là thân Phật, Giáo là lời Phật, Thiền là tâm Phật. Sở dĩ Phật được gọi là Phật chỉ là do ba pháp này mà thôi. Sở dĩ đức Phật độ sinh cũng chỉ là do ba pháp này. Nếu chúng sinh thật sự có thể nương theo Luật, Giáo, Thiền tu trì thì ba nghiệp của chúng sinh sẽ chuyển thành ba nghiệp của chư Phật. Ba nghiệp đã chuyển thì phiền não chính là Bồ-đề, sinh tử chính là Niết-bàn.

Lại sợ túc nghiệp sâu nặng chẳng thể dễ chuyển nên dùng sức Đà-ra-ni tam mật gia trì để un đúc. Hoặc lại sợ rằng căn khí kém cỏi, chưa được giải thoát, phải thọ sinh lần nữa sẽ tránh khỏi mê lầm; vì thế đặc biệt mở ra một môn Tín Nguyện niệm Phật cầu sinh Tịnh độ, ngõ hầu dù Thánh hay phàm đều cùng vãng sinh Tây Phương ngay trong đời này. Bậc Thánh thì mau chứng Vô Thượng Bồ-đề, kẻ phàm thì vĩnh viễn thoát khỏi sinh tử trói buộc. Do dựa vào từ lực của Phật nên công đức, lợi ích chẳng thể nghĩ bàn.


 
ấn quang đại sư gia ngôn lục 3


Nên biết rằng: Luật là nền tảng của Giáo, Thiền, Tịnh, Mật. Nếu chẳng thể nghiêm trì giới cấm sẽ chẳng đạt được lợi ích chân thật nơi Giáo, Thiền, Tịnh, Mật. Như lầu cao vạn trượng, nếu nền móng chẳng vững thì chưa cất xong đã sụp. Tịnh là chỗ quy túc của Giáo, Thiền, Tịnh, Mật, như trăm sông, vạn dòng đều đổ vào biển cả.

Bởi lẽ, pháp môn Tịnh độ là pháp môn để mười phương chư Phật trên thành Phật đạo, dưới độ chúng sinh, thành thủy, thành chung. Vì thế, trong phẩm Nhập Pháp Giới kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài được ngài Phổ Hiền gia bị, khai thị, chứng được Đẳng giác. Đức Phổ Hiền khuyên Thiện Tài nên phát mười đại nguyện vương, hồi hướng vãng sinh Tây Phương Cực Lạc thế giới ngõ hầu mau viên mãn Phật quả. Ngài lại dùng pháp này phổ khuyến toàn bộ Hoa Tạng đại chúng nên tu tập như thế.

Trong Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh, phần nói về Hạ Phẩm Hạ sinh, hạng người Ngũ nghịch Thập ác sắp đọa địa ngục A-tỳ, được thiện tri thức dạy cho niệm Phật, niệm mười tiếng hoặc chỉ niệm mấy tiếng là mạng chung, cũng vẫn được Phật tiếp dẫn vãng sinh Tây Phương.

Xem đó thì trên từ bậc Đẳng giác Bồ-tát chẳng thể ra khỏi pháp này, dưới đến kẻ tội Ngũ nghịch, Thập ác cũng có thể chứng nhập pháp này. Công đức, lợi ích của pháp môn đây vượt trội hơn các giáo pháp khác trong cả một đời giáo hóa của đức Phật. Bởi lẽ, các giáo pháp khác toàn dạy dùng Tự lực để thoát ly sinh tử. Kẻ chưa đoạn hoặc, nương vào từ lực của Phật liền có thể đới nghiệp vãng sinh. Kẻ đã đoạn hoặc nếu nương theo từ lực của Phật sẽ chóng chứng được phẩm vị cao.

Vì thế, đây là một pháp môn đặc biệt nhất trong cả một đời giáo hóa của đức Phật, chẳng thể dùng những giáo pháp thông thường để bàn luận pháp này được! Do đó, các kinh Đại thừa như kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa v.v…, các đại Bồ-tát như Văn Thù, Phổ Hiền…; các đại Tổ sư như Long Thọ, Mã Minh… đều hiển thị, xiển dương, khen ngợi, chỉ dạy, phổ khuyến vãng sinh. Đức Di-đà, đức Thích-ca trong những kiếp xưa, phát đại thệ nguyện độ thoát chúng sinh. Vị này thì thị hiện sinh trong uế độ, dùng nhơ, dùng khổ chiết phục, hòng đưa chúng sinh đi; vị kia thì an cư Tịnh độ, dùng tịnh, dùng vui nhiếp thọ để lôi kéo, uốn nắn.

Ông chỉ thấy ngu phu, ngu phụ cũng niệm Phật được bèn coi thường Tịnh độ; sao chẳng thấy trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm, sau khi Thiện Tài đã chứng ngộ ngang với chư Phật thì Phổ Hiền Bồ-tát bèn chỉ dạy phát khởi mười đại nguyện vương, hồi hướng vãng sinh Tây Phương Cực Lạc thế giới hòng viên mãn Phật quả? Huống hồ Bồ-tát còn đem pháp này khuyên khắp cả Hoa Tạng hải chúng nữa? Hoa Tạng hải chúng không một ai là phàm phu Nhị thừa, toàn là Pháp thân Đại sĩ thuộc bốn mươi mốt địa vị, cùng phá vô minh, cùng chứng Pháp tánh, đều có thể do bổn nguyện hiện làm Phật trong thế giới không có Phật.

Hơn nữa, trong biển Hoa Tạng, Tịnh độ vô lượng, nhưng ai nấy đều hồi hướng vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới, đủ biết là vãng sinh Cực Lạc chính là huyền môn để thoát khổ, là đường tắt để thành Phật. Vì thế, từ xưa tới nay, trong tất cả Tùng lâm, Thiền, Giáo, Luật, không đâu chẳng sớm chiều trì danh hiệu Phật cầu sinh Tây Phương vậy.

Hết thảy chúng sinh vốn sẵn có trí tuệ, đức tướng Như Lai, chỉ do mê chân theo vọng, quay lưng với giác, xuôi theo trần lao, nên toàn thể chuyển thành phiền não, ác nghiệp. Vì thế, phải trải bao kiếp dài lâu, luân hồi sinh tử. Như Lai thương xót giảng ra các pháp khiến họ bỏ vọng quy chân, ngoảnh mặt với trần lao, xuôi theo giác ngộ, khiến cho toàn thể phiền não ác nghiệp lại trở thành trí huệ, đức tướng. Từ đây cho đến cùng tột đời vị lai, an trụ trong cõi Thường Tịch Quang. Khác nào nước đóng thành băng, băng lại tan thành nước, thể vốn chẳng khác, nhưng công dụng thật khác nhau một trời một vực.

Bắt đầu từ thời A-hàm cho đến thời Bát-nhã, không kinh nào là chẳng tuyên thuyết thuận theo căn tánh của chúng sinh, khiến họ lần lượt tiến dần trên đường về nhà. Bổn hoài của Phật vẫn giữ kín chưa nói. Mãi đến thời Pháp Hoa, Phật mới khai Quyền hiển Thật, khai Tích hiển Bổn, Nhân-thiên-quyền-tiểu đều là Nhất thừa khách làm thuê thật là con ông trưởng giả! Ba căn đều được thọ ký, diễn bày trọn vẹn bổn hoài xuất thế, cùng hội Hoa Nghiêm ban sơ, đầu cuối chiếu rọi lẫn nhau. Có thể nói là một đại sự nhân duyên đem giao phó trọn vẹn, không còn giấu diếm chút gì.

Lại vì chúng sinh đời mạt căn cơ hèn kém, thật chẳng ai có thể đoạn hoặc chứng chân. Vì thế, Phật đặc biệt mở ra một môn Tịnh độ hòng Thượng, Trung, Hạ căn, dù phàm hay Thánh cùng lìa khỏi Ta-bà, sinh về Cực Lạc ngay trong đời này, chứng dần dần Vô lượng quang thọ. Lòng thâm từ đại bi ấy thật là chí cực không còn gì hơn được nữa!

Phật pháp rộng sâu như biển cả. Kẻ phàm phu sát đất nào lại có thể một hơi hút sạch tận nguồn, cạn đáy được? Tuy nhiên, nếu có thể sinh tâm chánh tín sẽ tự có thể tùy theo sức mình được hưởng lợi ích. Ví như Tu-la, hương tượng và các loài muỗi mòng uống nước biển cả; loài nào, loài nấy uống no mới thôi. Đức Như Lai xuất thế tùy thuận chúng sinh thuyết pháp khiến mỗi loài được lợi ích cũng giống nhau như thế. Chúng sinh đời mạt nghiệp chướng sâu dày, thiện căn cạn mỏng, tâm trí hẹp kém, thọ mạng ngắn ngủi. Đã thế, tri thức ít ỏi, ma tà, ngoại đạo tung hoành. Tu các pháp môn khác muốn ngay trong hiện đời đoạn hoặc chứng chân, liễu sinh thoát tử thật là một việc hy hữu cực khó.

Chỉ mỗi mình pháp môn Tịnh độ chuyên cậy vào Phật lực. Thế nên, chẳng cần biết đến đoạn, chứng, chỉ trọng Tín-nguyện. Nếu có đủ Tín-nguyện, dẫu là hạng tội ác cực đại sắp đọa A-tỳ địa ngục vẫn có thể nương vào sức Thập Niệm, mau chóng được Phật từ tiếp dẫn vãng sinh. Ôi! Như Lai đại từ phổ độ chẳng bỏ sót một ai, chỉ mình pháp này thật là tóm thâu trọn khắp.

Pháp môn niệm Phật nguyên lai ra sao? Do một niệm tâm tánh của chúng ta giống như hư không thường hằng, bất biến. Tuy thường chẳng biến, nhưng lại niệm tùy duyên. Nếu chẳng duyên theo Phật giới sẽ duyên theo Cửu giới. Chẳng duyên theo Tam thừa sẽ duyên theo Lục đạo, chẳng duyên theo nhân thiên, ắt sẽ duyên theo Tam đồ. Do duyên theo nhiễm, tịnh sai khác thành ra quả báo sướng, khổ khác xa.

Dù bản thể trọn chẳng biến đổi, nhưng Tướng và Dụng dĩ nhiên khác biệt một trời một vực! Ví như hư không, mặt trời chiếu thì sáng, mây đùn thì tối. Tuy bản thể của hư không chẳng vì mặt trời hay mây mà tăng, giảm, nhưng tướng trạng hiện rõ hay ngăn che cố nhiên chẳng thể nói là cá mè một lứa. Do nghĩa này, Như Lai dạy mỗi chúng sinh duyên niệm nơi Phật.

Vì thế mới nói: “Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật, niệm Phật thì hiện tại, tương lai nhất định thấy Phật, cách Phật chẳng xa”.

Lại nói: “Chư Phật Như Lai là Pháp giới thân vào trong tâm tưởng của hết thảy chúng sinh. Vì thế, lúc tâm các ngươi tưởng Phật thì tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp phụ. Tâm này làm Phật. Biển Chánh Biến Tri của chư Phật từ tâm tưởng sinh”.

Hễ duyên theo Phật giới thì tâm này làm Phật, tâm này là Phật. Nếu duyên theo các giới chúng sinh thì tâm này làm chúng sinh, tâm này là chúng sinh. Đã hiểu vậy rồi mà vẫn chẳng niệm Phật, thật là chuyện chưa từng có! Một pháp niệm Phật lấy vạn đức hồng danh của Như Lai làm duyên, mà vạn đức hồng danh ấy chính là Vô Thượng Giác Đạo do đức Như Lai đã chứng khi Ngài đắc quả. Do lấy Quả địa giác (sự giác ngộ khi đã chứng quả) làm Nhân địa tâm (cái tâm dùng để tu nhân), cho nên Nhân trùm biển Quả, Quả thấu tột nguồn Nhân. Như người nhiễm hương, thân có mùi thơm; như tò vò nuôi nhện, lâu ngày hóa tò vò con. Thành Phật ngay trong đời này, chuyển phàm thành Thánh; công năng, lực dụng của pháp này vượt xa hết thảy các pháp môn khác trong cả một đời giáo hóa của đức Phật. Bởi lẽ, các môn khác đều cậy vào Tự lực, phải đoạn hoặc chứng chân mới hòng liễu sinh thoát tử.

Pháp môn niệm Phật: Tự lực và Phật lực cả hai cùng đủ. Bởi thế, người đã đoạn hoặc nghiệp sẽ mau chứng Pháp thân. Người đầy dẫy hoặc nghiệp thì đới nghiệp vãng sinh. Pháp này cực kỳ bình thường, dù là kẻ ngu phu, ngu phụ cũng được hưởng lợi ích; nhưng lại cực kỳ huyền diệu, dẫu là Đẳng giác Bồ-tát cũng chẳng thoát khỏi phạm vi của pháp này. Vì thế, không một ai là chẳng tu được. Hạ thủ dễ, thành công cao. Dùng sức ít, hiệu quả nhanh chóng. Thật là pháp môn đặc biệt trong cả một đời giáo hóa của Như Lai. Vì thế, chẳng thể dùng sức giáo lý thông thường để bình luận, phán đoán được! Mạt pháp chúng sinh phước mỏng, huệ cạn, chướng dày, nghiệp sâu, chẳng tu pháp này, toan cậy Tự lực để đoạn hoặc chứng chân hòng liễu sinh tử thật là vạn nan, vạn nan!

Trong hai triều Tống Thái Tông và Tống Chân Tông, Pháp sư Tỉnh Thường trụ trì chùa Chiêu Khánh ở Chiết Giang, hâm mộ đạo phong của tổ Lô Sơn Huệ Viễn, lập Tịnh Hạnh Xã. Ông Vương Văn Chánh Công Đán quy y đầu tiên, làm người chủ xướng. Những bậc tể quan, châu mục, học sĩ, đại phu đều xưng là đệ tử, tham dự Tịnh Hạnh Xã đến hơn một trăm hai mươi người. Hàng Sa-môn tham dự đến hơn ngàn người, còn hàng sĩ thứ chẳng thể tính nổi số.

Sau lại có Lộ Công Văn Ngạn Bác làm quan suốt bốn triều Nhân Tông, Anh Tông, Thần Tông, Triết Tông, xuất tướng nhập tướng hơn năm mươi năm, quan phẩm đến chức Thái sư, được phong là Lộ Quốc Công. Bình sinh, ông dốc lòng tin Phật pháp, tuổi già càng tận lực hỗ trợ đạo pháp, chuyên niệm A-di-đà Phật. Sáng chiều, đi đứng, chưa từng thiếu lười. Ông cùng với Pháp sư Tịnh Nghiêm kết xã 10 vạn người ở kinh đô để cầu sinh Tịnh độ. Phần lớn các sĩ đại phu thời ấy đều được ông giáo hóa. Ông có bài tụng như sau:

“Tri quân khí đảm đại như thiên,
Nguyện kết Tây Phương thập vạn duyên,
Bất vị tự thân cầu kế hoạt,
Đại gia tề thượng độ đầu thuyền”.

Tạm dịch:

“Biết Ngài lớn mật bằng trời,
Xin cùng Tịnh độ kết mười vạn duyên
Cứu thân nào tính kế riêng,
Ai ai đều đã bước lên thuyền rồi!”.
Ông thọ đến 92 tuổi, niệm Phật qua đời.


 
ấn quang đại sư gia ngôn lục 4



MỤC LỤC

PHẦN TỰA
DUYÊN KHỞI TÁI BẢN ẤN QUANG ĐẠI SƯ GIA NGÔN LỤC
I - TỊNH ĐỘ THÙ THẮNG
II.A - GIẢNG VỀ LÒNG TIN CHÂN THÀNH, TÂM NGUYỆN THA THIẾT
II.B - KHUYÊN TRỪ NGHI SINH TÍN
II.C - KHUYÊN ĐẦY ĐỦ TÍN NGUYỆN
III.A - GIẢNG VỀ PHƯƠNG PHÁP NIỆM PHẬT
III.B - ĐỐI TRỊ TẬP KHÍ
III.C - LUẬN VỀ VIỆC GÌN LÒNG LẬP PHẨM
III.D - LUẬN ĐỊNH CÁC PHÁP TU TRÌ
III.E - KHUYÊN HÀNH NHÂN NỖ LỰC
IV.A - CẢNH TỈNH MẠNG NGƯỜI VÔ THƯỜNG
IV.B - KHUYÊN CHUYÊN CẬY VÀO PHẬT LỰC
IV.C - DẠY NHỮNG ĐIỀU THIẾT YẾU VỀ LÂM CHUNG
IV.D - KHUYÊN NÊN GIỮ LÒNG THÀNH KÍNH
V.A - LUẬN VỀ LÝ NHÂN QUẢ
V.B - GIẢNG NHÂN QUẢ VỀ MẶT SỰ
V.C - GIẢI THÍCH VỀ NGUYÊN DO CỦA KIẾP VẬN
V.D - GIẢNG NHỮNG ĐIỂM TRỌNG YẾU VỀ VIỆC GIỚI SÁT
VI - PHÂN ĐỊNH GIỚI HẠN GIỮA THIỀN VÀ TỊNH
VII.A - LUẬN VỀ SỰ & LÝ
VII.B - LUẬN VỀ TÂM TÁNH
VII.C - LUẬN VỀ NGỘ CHỨNG
VII.D - LUẬN VỀ TÔNG, GIÁO


 
thông tin cuối bài viết
 
thông tin new 2
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây